An sinh theo kịp tốc độ phát triển
Đô thị là một cộng đồng dân cư đa dạng, gồm doanh nhân, chuyên gia, nhân lực trình độ cao, người lao động chính thức và phi chính thức, người nhập cư mới và cư dân lâu đời... Nội lực của một thành phố nằm ở sự đa dạng của lực lượng lao động và ở khả năng để các nhóm dân cư cùng đóng góp, cùng có cơ hội thụ hưởng thành quả phát triển. Dự thảo Luật Phát triển đô thị (gọi tắt là dự thảo) đặt ra nhiều chính sách theo hướng đó.
Trong cải tạo, chỉnh trang, tái thiết đô thị, dự thảo yêu cầu hài hòa lợi ích giữa người dân, Nhà nước và doanh nghiệp; ưu tiên bố trí tái định cư tại chỗ; khuyến khích, hỗ trợ cộng đồng dân cư tự đề xuất, tự thực hiện dự án… Về an sinh, HĐND thành phố được trao thẩm quyền quy định các cơ chế, chính sách an sinh xã hội, phúc lợi xã hội theo hướng mở rộng đối tượng, nâng mức thụ hưởng, bảo đảm hệ thống an sinh toàn diện, hiện đại, bền vững, bao phủ toàn dân. HĐND thành phố cũng được trao thẩm quyền quy định chính sách hỗ trợ từ ngân sách địa phương đối với chi phí phòng bệnh; chi phí khám bệnh, chữa bệnh ngoài phạm vi chi trả của quỹ bảo hiểm y tế theo lộ trình phù hợp…
Một yêu cầu quan trọng là nguồn lực thực hiện các cam kết. Với những chính sách có tính dài hạn, có thể nghiên cứu rõ hơn phần bảo đảm cơ bản từ ngân sách và phần nguồn lực xã hội tham gia bổ sung. Câu chuyện nguồn lực cũng gắn với một vấn đề lớn hơn: chính sách an sinh được tính cho những ai? Một đặc trưng của các đô thị lớn là có một bộ phận đáng kể lao động nhập cư, lao động phi chính thức, những người làm việc và sinh sống thực tế tại thành phố nhưng đăng ký thường trú ở địa phương khác. Họ tham gia trực tiếp vào các ngành dịch vụ, xây dựng, công nghiệp, vận tải và nhiều hoạt động thiết yếu của đời sống đô thị.
Nếu việc hoạch định trường học, bệnh viện, nhà ở, giao thông và các thiết chế xã hội chủ yếu dựa trên dân số đăng ký mà chưa phản ánh đầy đủ dân số thực tế cư trú, nguy cơ quá tải luôn hiện hữu. Khi đó, mục tiêu “bao phủ toàn dân” cũng có thể bỏ sót một bộ phận đang thực sự sống, làm việc và đóng góp cho thành phố. Từ định hướng bao phủ toàn dân mà dự thảo đã đặt ra, có thể nghiên cứu bổ sung nguyên tắc hoạch định an sinh và dịch vụ công trên cơ sở dân số thực tế cư trú. Việc tính đúng dân số cũng chính là tính đúng nhu cầu hạ tầng, nguồn lực và mức độ bao phủ của chính sách trong đô thị đặc biệt.
Đại biểu Lâm Văn Đoan (Lâm Đồng), Phó Chủ nhiệm Ủy ban Văn hóa và Xã hội của Quốc hội:
Cơ chế đủ mạnh để chính sách an sinh xã hội bao phủ toàn dân
Bên cạnh những cơ chế đặc thù, vượt trội về kinh tế, TPHCM cần có những cơ chế tương xứng về xã hội, bảo đảm mọi người dân, kể cả người nhập cư và nhóm yếu thế, đều được thụ hưởng thành quả phát triển.
Dự thảo đã quan tâm đến nhà lưu trú công nhân, nhà ở cho thuê và chính sách an sinh xã hội bao phủ toàn dân. Do đó, tôi ủng hộ dự thảo trao cho HĐND TPHCM thẩm quyền ban hành những chính sách an sinh đặc thù, phù hợp thực tiễn thành phố. Đồng thời bảo đảm quyền tiếp cận nhà ở, hạ tầng và dịch vụ công cơ bản theo nơi cư trú thực tế, bởi mục tiêu cuối cùng của phát triển đô thị là phục vụ những người đang sinh sống, làm việc và đóng góp cho thành phố.
Phan Thảo ghi
Hạ tầng và khả năng tiếp cận cũng gắn trực tiếp với hiệu quả của chính sách. Dự thảo đã dành nhiều cơ chế cho phát triển đô thị theo định hướng giao thông công cộng, cho phép khai thác phần giá trị tăng thêm từ đất và các nguồn thu tại khu vực này để đầu tư hạ tầng giao thông. Từ đó, có thể nghiên cứu dành một phần nguồn lực hình thành tại chính các khu vực này cho các mục tiêu an sinh trực tiếp, như tái định cư, hỗ trợ chuyển đổi sinh kế, nhà ở xã hội, trường học, trạm y tế và tiện ích công cộng. Bởi người chịu tác động trực tiếp của chỉnh trang đô thị nhiều khi là những hộ đã cư trú lâu năm, có sinh kế gắn với vị trí cũ.
Nếu giá trị đất đai tăng lên nhờ đầu tư công nhưng những người chịu chi phí chuyển đổi lại không được hưởng tương xứng từ quá trình phát triển ấy, khoảng cách lợi ích rất dễ xuất hiện. Dự thảo cũng có các chính sách phát triển nhà ở xã hội, nhà lưu trú công nhân, nhà ở cho thuê. Bên cạnh số lượng, có thể quan tâm hơn đến chất lượng, khả năng chi trả và khả năng tiếp cận các dịch vụ thiết yếu của những nhóm thu nhập thấp. Cùng với đó là yêu cầu tăng sức chống chịu của hạ tầng trước ngập lụt, nắng nóng, thiên tai và những tác động ngày càng rõ của biến đổi khí hậu. Trong mọi “cú sốc” đô thị, những người chịu ảnh hưởng đầu tiên và nặng nề nhất thường là những nhóm có ít nguồn lực nhất để tự bảo vệ mình.
Đồng thuận trong phát triển
Một nền móng đặc biệt quan trọng khác là công bằng trong trình tự thực hiện chính sách. Dự thảo trao cho chính quyền thành phố thẩm quyền quyết định biện pháp cưỡng chế di dời phục vụ cải tạo, xây dựng lại nhà chung cư, chỉnh trang và tái thiết đô thị. Đây là công cụ cần thiết trong những trường hợp quá trình cải tạo bị kéo dài, nhất là đối với các công trình xuống cấp, mất an toàn. Tuy nhiên, di dời, giải tỏa luôn là một trong những vấn đề nhạy cảm nhất của phát triển đô thị.
Một dự án có thể hợp lý về quy hoạch, hiệu quả về kinh tế nhưng vẫn tạo ra chi phí xã hội rất lớn nếu người dân chưa được thông tin đầy đủ, chưa có cơ hội tham gia hoặc chưa nhìn thấy một cuộc sống ổn định sau khi rời khỏi nơi ở cũ. Công bằng, vì vậy, không nằm ở mức bồi thường, mà còn nằm trong cả trình tự đi đến quyết định. Từ nguyên tắc hài hòa lợi ích và ưu tiên tái định cư tại chỗ mà dự thảo đã xác lập, có thể nghiên cứu cụ thể hơn yêu cầu công khai phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư; cơ chế tham vấn cư dân trước khi thực hiện các dự án có tác động lớn; các phương thức tạo đồng thuận phù hợp, trừ trường hợp công trình nguy hiểm cần di dời khẩn cấp.
Đô thị đặc biệt được tạo nên từ thẩm quyền, nguồn lực và năng lực phát triển, đồng thời được đo bằng chất lượng sống của người dân. Phân quyền càng mạnh, cơ chế càng mở thì chính sách an sinh càng phải bao quát dân số thực tế cư trú, bảo đảm công bằng trong cải tạo, tái thiết và mở rộng sự tham gia của người dân vào những vấn đề liên quan trực tiếp đến cuộc sống của mình. Một thành phố đáng sống được nhìn thấy qua chất lượng hạ tầng, sức cạnh tranh kinh tế và cách thành phố bảo đảm cuộc sống cho những nhóm có ít khả năng tự bảo vệ mình. Khi người dân được bảo đảm quyền lợi, được tham gia và được thụ hưởng thành quả phát triển, thành phố sẽ có thêm nền tảng để tạo dựng niềm tin, sự đồng thuận và sức mạnh cộng đồng cho quá trình phát triển bền vững.
Văn hóa và sự đồng thuận xã hội cũng gắn chặt với chất lượng phát triển đô thị. Mỗi chủ trương lớn về đô thị đều chạm tới sinh kế, nơi ở, thói quen và lối sống của số đông. Đồng thuận xã hội là “hạ tầng mềm” của phát triển, cần được đầu tư và bồi đắp, cũng như nỗ lực xây dựng. Dự thảo đã đặt ra các nguyên tắc công khai, minh bạch, trách nhiệm giải trình, sự tham gia của người dân và vai trò giám sát, phản biện xã hội.
Từ nền tảng đó, có thể cụ thể thêm danh mục thông tin được công khai đối với dự án, phương án tái định cư, quyết định áp dụng cơ chế đặc thù; hình thức công khai để người dân thực sự tiếp cận; thời hạn giải trình đối với ý kiến cộng đồng và phản hồi kiến nghị giám sát… Khi được tham gia từ đầu, được biết lý do của một quyết định và nhìn thấy ý kiến của mình được tiếp nhận hoặc giải trình, nghĩa là người dân trở thành chủ thể kiến tạo thành phố.