Thứ Ba, ngày 28 tháng 6 năm 2022

Kỷ niệm 110 năm Ngày sinh nhà văn Nguyễn Huy Tưởng (6/5/1912 - 6/5/2022):

Dấu ấn của những vở kịch lịch sử

Nhà văn Nguyễn Huy Tưởng (1912 - 1960). (Ảnh tư liệu)

(Thanhuytphcm.vn) – Nhà văn Nguyễn Huy Tưởng sinh ngày 6/5/1912 trong một gia đình nhà nho nghèo ở Từ Sơn, Bắc Ninh, nay thuộc Đông Anh, Hà Nội. Từ năm 1930, ông có hoạt động yêu nước ở Hải Phòng. Năm 1938, ông tham gia Hội Truyền bá Quốc ngữ, năm ông gia nhập nhóm Văn hóa cứu quốc bí mật và được bầu làm Tổng Thư ký Hội Truyền bá Quốc ngữ Hải Phòng. Tháng 6/1945, Nguyễn Huy Tưởng tham gia ban biên tập tạp chí Tiên Phong của Văn hóa cứu quốc và dự Đại hội Quốc dân ở Tân Trào vào tháng 8/1945. Ông từng giữ chức vụ Tổng thư ký Ban Trung ương Vận động đời sống mới. 

Nguyễn Huy Tưởng là đại biểu Quốc hội khóa I năm 1946. Tháng 12/1946, toàn quốc kháng chiến, ông tổ chức và đưa Đoàn Văn hóa kháng chiến lên Việt Bắc. Tại đây, ông là Ủy viên Thường vụ Hội Văn nghệ Việt Nam, Thư ký Tòa soạn Tạp chí Văn nghệ và tham gia Tiểu ban Văn nghệ Trung ương. Năm 1951, ông tham gia Chiến dịch Biên giới, sau đó tham gia cải cách ruộng đất. Sau năm 1954, ông là Ủy viên Ban Chấp hành Hội Nhà văn Việt Nam khóa I. Ông sáng lập và là Giám đốc đầu tiên của Nhà xuất bản Kim Đồng. Nguyễn Huy Tưởng mất ngày 25/7/1960 tại Hà Nội. Ông được truy tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật năm 1996.

Nguyễn Huy Tưởng mất khi đang viết sung sức nhưng đã kịp để lại hơn 20 tác phẩm lớn, trong đó có nhiều tiểu thuyết lịch sử, như Đêm hội Long Trì (1942), An Tư công chúa (1944), Truyện Anh Lục (1955), Sống mãi với Thủ đô (1960), Lá cờ thêu sáu chữ vàng (1960)… Ông cũng khá thành công với một số tác phẩm viết cho thiếu nhi, như Tìm mẹ (1950), Kể chuyện Quang Trung (1957), An Dương vương xây thành ốc (1960)…

Tìm hiểu các tác phẩm của Nguyễn Huy Tưởng, ta thấy nguồn cảm hứng lớn nhất trong các tác phẩm của ông là thiên về khai thác lịch sử. Ông viết để thể hiện tinh thần yêu nước và là một trong những cách thức khơi gợi lòng yêu nước. Đặc biệt, các tác phẩm kịch của ông đã để lại dấu ấn nổi bật. Tiêu biểu nhất trong số các vở kịch của Nguyễn Huy Tưởng có thể kể đến Vũ Như Tô. Vũ Như Tô là một người thợ tài hoa sống vào đời nhà Lê, người đã vâng lệnh vua Lê Tương Dực xây dựng các cung điện nguy nga phục vụ cho nhu cầu hưởng lạc xa xỉ của nhà vua. Việc làm này tuy thỏa mãn được tài năng sáng tạo của người thợ nhưng lại góp phần vào việc gây bao nhiêu điều lầm than cho dân chúng. Vì vậy, sau khi binh lính nổi loạn giết chết vua Tương Dực thì trút giận xuống cả Vũ Như Tô (năm 1417). Nguyễn Huy Tưởng đã thể hiện trong nhân vật Vũ Như Tô một tấn bi kịch, ông đặt ra mối quan hệ giữa con người và nghệ thuật cần có sự hài hòa. Ông thể hiện lòng thương xót người nghệ sĩ và đồng thời cũng khẳng định, nghệ thuật không cần phải quá xa vời, nó cần gắn liền với cuộc sống đời thường của con người. Qua đó tác giả nhấn mạnh vai trò của người nghệ sĩ, xã hội cần phải tôn trọng những tài năng, nhưng phải tạo điều kiện để họ được đóng góp có ích cho nhân dân, cho đất nước.

Còn với kịch Cột đồng Mã Viện, được viết từ năm 1940, mãi đến 1944 mới hoàn thành, tác giả nhắc lại một nỗi đau lớn của dân tộc khi bị kẻ thù ngàn năm dựng một trụ đồng và gắn nó với vận mệnh của đất nước, sự tồn vong của dân tộc. Với câu “Đồng trụ triết, Giao Chỉ tiệt” (Cột đồng gãy, Giao Chỉ diệt), cột đồng là một sự áp chế đáng sợ đối với người dân Việt: ai cũng lo cột đồng đổ thì cả giống nòi mất! Vì vậy mọi người qua lại đều đua nhau ném gạch, đá vào chân cột đồng để cho thêm chắc, trước tiếng cười khinh miệt của bọn lính canh… Có một người hào kiệt tên là Hùng Chi quyết tâm phá đổ cột đồng, để chứng tỏ cho quân xâm lược tinh thần bất khuất của người Giao Chỉ, và cũng để mở mắt cho người dân của mình: Cột đồng không phải thần thánh gì cả. Phá cột đồng, giống nòi cũng chẳng làm sao, mà chỉ là xóa đi được phần nào nỗi nhục! Dù hành động này bị phản bội và thất bại nhưng đã gieo vào đầu của nhiều người về sức sống của dân tộc, rằng không có điều gì có thể làm người Việt ta khuất phục…

Tháng 4/1946, vở kịch Bắc Sơn của ông được công diễn ở Nhà hát lớn Hà Nội đem lại thành công lớn, được các văn nghệ sĩ thủ đô nhiệt liệt hoan nghênh. Thành công của vở Bắc Sơn (với phần nhạc của Văn Cao) được cho mở đầu cho dòng kịch nói phục vụ quần chúng nhân dân. Vở kịch nói về không khí cách mạng ở Bắc Sơn sau cuộc khởi nghĩa tháng 9/1940 với sự hưởng ứng nhiệt tình của đồng bào các dân tộc. Với bối cảnh không xa hiện tại, vở kịch đã khơi gợi tinh thần đấu tranh của nhân dân ta trước nguy cơ xâm lược của thực dân Pháp, vào thời điểm và tiếng súng đã nổ rầm rĩ tại Nam bộ.

Một số vở kịch sau đó (kể cả các truyện ký, tiểu thuyết) được viết trong cuộc kháng chiến chống Pháp và sau ngày hòa bình tiếp tục tinh thần đó, có ý nghĩa khích lệ tinh thần hăng hái chiến đấu của quân và dân tộc ta.

Trong khi đó, vở Những người ở lại với bối cảnh cuộc kháng chiến bảo vệ Thủ đô của quân dân Hà Nội tháng 12/1946 đã thể hiện nhiều cung bậc cảm xúc, nhiều tâm trạng rất đời, rất thực. Các nhân vật chính là các trí thức, học sinh tham gia vào cuộc chiến, trong đó tập trung miêu tả tấn bi kịch của gia đình bác sĩ Thành, xảy ra ngay giữa cuộc chiến, buộc phải có thái độ dứt khoát, không được vùng vằng... Có lẽ vì phản ánh khá thực các biểu hiện xã hội nên có lúc Những người ở lại bị phê bình nặng nề, nhưng xuyên suốt tác phẩm vẫn toát lên “dòng chính”, đó là đứng về phía lợi ích của đất nước, của dân tộc…

Chủ đề lịch sử vốn không dễ nhưng với Nguyễn Huy Tưởng lại khá thành công, đặc biệt là trong các vở kịch. Ông kể lại lịch sử bằng tình cảm của một người con đất Việt yêu nước, tôn kính tiền nhân; đồng thời với các câu chuyện lịch sử trong bối cảnh đương đại, ông luôn đứng về phía dòng chủ lưu (yêu nước, theo kháng chiến, tin tưởng Bác Hồ, lấy lợi ích dân tộc làm trọng…) nhưng chú ý khắc họa những trăn trở, suy nghĩ, mong muốn của những cá nhân cụ thể, làm cho yếu tố người, đời rất thực. Kịch của ông mang tính thôi thúc hành động cách mạng nhưng không kêu gọi suông mà thường gắn nhu cầu, nguyện vọng cá nhân với trào lưu, xu thế tất yếu của xã hội, của đất nước.

Nhà nghiên cứu văn học Nguyên An từng nhận xét: “Nếu không có Nguyễn Huy Tưởng, văn đàn hiện đại Việt Nam, nhất là ở mảng lịch sử - truyền thống, chắc là vơi đi sự bề thế, vẻ kỳ vĩ, tráng lệ và chất bi thương hào hùng”. Nhận xét đó không hẳn là đề cao Nguyễn Huy Tưởng mà là một đánh giá khá tinh tế về những đặc điểm “bề thế”, “kỳ vĩ”, “tráng lệ”, “bi thương hào hùng” ở nhiều tác phẩm, trong đó có các vở kịch của Nguyễn Huy Tưởng. Và chính điều đó đã đóng góp quan trọng vào nền văn hóa nghệ thuật nói chung, kịch nói riêng của Việt Nam, không chỉ trong những năm lập lại hòa bình ở miền Bắc mà còn cả giai đoạn sau này.

Nguyễn Minh Hải

Ý kiến bạn đọc

refresh
 

Tổng lượt bình luận

Tin khác

Thông báo