Bài toán đặt ra không chỉ là làm thế nào để đạt tốc độ tăng trưởng cao, mà quan trọng hơn là tăng trưởng được tạo ra từ đâu và có đủ sức duy trì trong dài hạn hay không. Mục tiêu tăng trưởng hai con số là khả thi, nhưng không thể đạt được một cách bền vững nếu tiếp tục dựa vào mô hình tăng trưởng cũ. Tại Kỳ họp không thường lệ thứ Nhất, Quốc hội khóa XVI, phóng viên TTXVN đã có cuộc trao đổi với đại biểu Nguyễn Thị Việt Nga (Đoàn Hải Phòng) xung quanh vấn đề này.
- Nghị quyết 19-NQ/TW đặt ra yêu cầu đổi mới mô hình phát triển, trong đó chuyển mạnh sang mô hình tăng trưởng dựa trên năng suất, khoa học-công nghệ và đổi mới sáng tạo. Theo đại biểu, đâu là những giới hạn của mô hình tăng trưởng hiện nay và vì sao đây là thời điểm Việt Nam phải thay đổi?
Đại biểu Quốc hội Nguyễn Thị Việt Nga: Theo tôi, cần nhìn nhận một cách công bằng rằng mô hình tăng trưởng thời gian qua đã đưa Việt Nam đạt được những thành tựu rất quan trọng, tạo dựng được nền tảng kinh tế, hạ tầng, năng lực sản xuất và vị thế quốc tế như ngày hôm nay. Nhưng một mô hình từng phát huy hiệu quả trong một giai đoạn không có nghĩa sẽ còn đủ sức đưa đất nước đi tiếp trong giai đoạn phát triển cao hơn.
Giới hạn lớn nhất hiện nay là tăng trưởng vẫn còn dựa khá nhiều vào mở rộng các yếu tố đầu vào như vốn, lao động, tài nguyên và ở một số lĩnh vực vẫn chủ yếu tham gia vào các khâu gia công, lắp ráp có giá trị gia tăng chưa cao.
Giới hạn thứ hai là hiệu quả phân bổ nguồn lực chưa tương xứng với tiềm năng. Nguồn lực đất đai, vốn, tài sản công, dữ liệu, khoa học-công nghệ và cả nguồn nhân lực chất lượng cao ở nhiều nơi chưa thực sự đi tới những chủ thể có khả năng sử dụng hiệu quả nhất.
Cùng đó, liên kết vùng, liên kết ngành, liên kết giữa doanh nghiệp trong nước với khu vực FDI, giữa nghiên cứu với sản xuất và thị trường cũng cần được nâng lên một bước rất mạnh.
Ngoài ra, mô hình tăng trưởng trong giai đoạn mới không thể chỉ đặt câu hỏi GDP tăng bao nhiêu, mà phải trả lời thêm: năng suất tăng bao nhiêu, người dân được hưởng lợi thế nào, môi trường được bảo vệ ra sao và năng lực tự chủ, sức chống chịu của nền kinh tế được nâng lên đến đâu.
Đây là thời điểm phải chuyển đổi vì những lợi thế truyền thống như lao động dồi dào, chi phí tương đối thấp, khai thác tài nguyên hay thu hút đầu tư bằng ưu đãi đang dần thu hẹp; trong khi cạnh tranh toàn cầu chuyển rất nhanh sang công nghệ, dữ liệu, trí tuệ nhân tạo, tiêu chuẩn xanh và năng lực đổi mới sáng tạo.
- Một trong những yêu cầu nổi bật của giai đoạn tới là duy trì tốc độ tăng trưởng cao. Theo đại biểu, mục tiêu tăng trưởng hai con số có khả thi không và đâu là điều kiện tiên quyết để đạt được mục tiêu này một cách bền vững?
Đại biểu Nguyễn Thị Việt Nga: Tôi cho rằng khả thi, nhưng không thể đạt một cách bền vững bằng mô hình tăng trưởng cũ. Bởi nếu chỉ tăng đầu tư, mở rộng tín dụng hay huy động thêm các yếu tố đầu vào, chúng ta có thể tạo được tốc độ tăng trưởng cao trong một thời điểm, nhưng rất khó duy trì nhiều năm mà không phát sinh sức ép đối với lạm phát, nợ, chất lượng tài sản, môi trường và ổn định vĩ mô.
Tăng trưởng hai con số mà chúng ta hướng tới phải là tăng trưởng đi lên từ năng suất cao hơn, giá trị gia tăng lớn hơn và hiệu quả sử dụng nguồn lực tốt hơn.
Định hướng hiện nay đặt khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo vào trung tâm và đặt mục tiêu nâng cao mạnh đóng góp của năng suất các nhân tố tổng hợp vào tăng trưởng. Theo tôi, điều kiện tiên quyết trước hết là thể chế phải đi trước một bước.
Nền kinh tế không thiếu nguồn lực, nhưng nhiều nguồn lực đang bị giữ lại bởi thủ tục phức tạp, quy định chồng chéo, dự án kéo dài, thị trường các yếu tố sản xuất chưa vận hành thực sự thông suốt. Không giải phóng được những nguồn lực đó thì tăng trưởng hai con số sẽ rất tốn vốn.
Điều kiện thứ hai là phải giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô. Tăng trưởng nhanh nhưng phải đi cùng kiểm soát lạm phát, bảo đảm các cân đối lớn, an toàn hệ thống tài chính và nợ công.
Thứ ba là phải tạo được bước nhảy về năng suất thông qua công nghệ, chuyển đổi số, hạ tầng chiến lược và nguồn nhân lực. Đồng thời phải hình thành những doanh nghiệp Việt Nam đủ lớn, đủ năng lực công nghệ để dẫn dắt các chuỗi sản xuất và hệ sinh thái trong nước.
Do đó, tôi cho rằng, câu hỏi quan trọng không chỉ là có đạt 10% hay không mà là 10% ấy được tạo ra từ đâu. Nếu đến từ năng suất, công nghệ, sáng tạo và hiệu quả thì đó mới là nền tảng để đất nước duy trì tốc độ phát triển cao trong một thời gian dài.
- Như đã phân tích, tăng trưởng cao đòi hỏi phải giải phóng và phân bổ nguồn lực hiệu quả hơn. Vậy theo đại biểu, những “điểm nghẽn” nào về thể chế cần được tháo gỡ để Nghị quyết 19 nhanh chóng phát huy hiệu quả và tạo thêm dư địa tăng trưởng?
Đại biểu Nguyễn Thị Việt Nga: Theo tôi, điểm nghẽn thể chế hiện nay cần được xử lý đồng thời ở cả chất lượng quy định và chất lượng thực thi. Trước hết phải tiếp tục xử lý tình trạng chồng chéo, mâu thuẫn giữa các luật và giữa luật với văn bản dưới luật.
Một dự án nếu đồng thời chịu sự điều chỉnh của pháp luật về đầu tư, đất đai, xây dựng, môi trường, quy hoạch, đấu thầu… mà các quy trình không được thiết kế liên thông thì doanh nghiệp vẫn phải đi qua nhiều “cửa,” thời gian chuẩn bị đầu tư kéo dài và chi phí cơ hội rất lớn.
Tiếp đó là chuyển mạnh từ tư duy tiền kiểm sang hậu kiểm và quản trị rủi ro. Điều gì thị trường và xã hội có thể làm tốt thì Nhà nước nên tạo khuôn khổ, tiêu chuẩn và giám sát thay vì can thiệp quá sâu vào từng hoạt động.Cùng đó, phải xây dựng nhanh hành lang pháp lý cho những lĩnh vực mới.
Công nghệ thay đổi rất nhanh, nếu mô hình kinh doanh mới, AI, dữ liệu, công nghệ tài chính hay các không gian kinh tế mới đều phải chờ pháp luật “đuổi kịp” thì cơ hội có thể đã qua.
Bên cạnh đó, cần tiếp tục hoàn thiện các thị trường yếu tố sản xuất, nhất là đất đai, vốn, khoa học-công nghệ, dữ liệu và nhân lực chất lượng cao, để nguồn lực được phân bổ theo hiệu quả chứ không bị chia cắt bởi địa giới, ngành hay cơ chế hành chính.
Cuối cùng là phân cấp, phân quyền phải thực chất nhưng phải đi cùng nguồn lực, năng lực cán bộ, trách nhiệm giải trình và kiểm soát quyền lực.
Tôi cho rằng cần đặc biệt lưu ý một điều, thể chế tốt không chỉ là có ít thủ tục hơn, mà là làm cho người dân và doanh nghiệp có thể dự đoán được mình phải làm gì, mất bao lâu, chịu chi phí bao nhiêu và cơ quan nào chịu trách nhiệm. Đó mới là môi trường thực sự thuận lợi cho đầu tư dài hạn.
- Một mô hình tăng trưởng dựa nhiều hơn vào năng suất và công nghệ sẽ đòi hỏi nguồn nhân lực khác với trước đây. Theo đại biểu, Việt Nam đang thiếu những kỹ năng nào và làm thế nào để biến nguồn nhân lực thành một động lực tăng trưởng thực sự?
Đại biểu Nguyễn Thị Việt Nga: Theo tôi, thách thức hiện nay không chỉ là thiếu lao động trình độ cao về số lượng mà quan trọng hơn là có một khoảng cách kỹ năng giữa những gì nền kinh tế mới cần và những gì thị trường lao động hiện đang cung cấp.
Có ít nhất 4 nhóm kỹ năng cần đặc biệt quan tâm. Trước tiên là kỹ năng số và công nghệ ở trình độ cao: AI, dữ liệu lớn, bán dẫn, tự động hóa, an ninh mạng, điện toán, thiết kế và vận hành các hệ thống thông minh.
Tiếp đó là kỹ năng xanh: thiết kế sản phẩm và quy trình tiết kiệm năng lượng, quản trị carbon, kinh tế tuần hoàn, ESG, công nghệ môi trường và khả năng đáp ứng các tiêu chuẩn xanh quốc tế.
Cùng đó là năng lực nghiên cứu ứng dụng và thương mại hóa tri thức. Chúng ta cần thêm những người không chỉ nghiên cứu được công nghệ mà còn biết đưa công nghệ từ phòng thí nghiệm tới nhà máy và thị trường; biết quản trị sở hữu trí tuệ, đầu tư mạo hiểm, phát triển sản phẩm mới và xây dựng doanh nghiệp công nghệ.
Nhóm thứ 4 là nhóm kỹ năng có tính nền tảng nhưng ngày càng quan trọng: tư duy phản biện, sáng tạo, giải quyết vấn đề, làm việc liên ngành, ngoại ngữ, khả năng hợp tác quốc tế và đặc biệt là khả năng học tập suốt đời.
Tôi cũng cho rằng, không nên chỉ đặt bài toán kỹ năng đối với người lao động. Đội ngũ cán bộ quản lý nhà nước cũng phải có năng lực quản trị dựa trên dữ liệu, dự báo, quản trị rủi ro và hiểu được công nghệ mới. Một nền kinh tế số rất khó phát triển nhanh nếu tư duy quản lý vẫn chủ yếu vận hành theo phương thức của nền kinh tế truyền thống.
- Nhìn rộng hơn, Nghị quyết 19 không chỉ đặt ra yêu cầu đạt tốc độ tăng trưởng cao mà còn hướng tới một mô hình phát triển mới. Theo đại biểu, cần nhìn nhận thế nào về “chất lượng” của tăng trưởng và đâu là thước đo quan trọng nhất trong chặng đường tới năm 2045?
Đại biểu Nguyễn Thị Việt Nga: Mô hình tăng trưởng trong giai đoạn mới không thể chỉ đặt câu hỏi GDP tăng bao nhiêu, mà phải trả lời thêm năng suất tăng bao nhiêu, người dân được hưởng lợi thế nào, môi trường được bảo vệ ra sao và năng lực tự chủ, sức chống chịu của nền kinh tế được nâng lên đến đâu.
Nếu tăng trưởng đến từ năng suất, công nghệ, đổi mới sáng tạo và hiệu quả sử dụng nguồn lực thì đó là tăng trưởng có chất lượng và có khả năng duy trì trong dài hạn. Mục tiêu cuối cùng không chỉ là tạo ra một con số tăng trưởng cao trong một vài năm, mà là hình thành một năng lực phát triển mới cho đất nước.
Việt Nam cần một mô hình trong đó các nguồn lực được sử dụng hiệu quả hơn, doanh nghiệp có khả năng tham gia sâu hơn vào các chuỗi giá trị, người lao động có năng suất cao hơn, khoa học-công nghệ thực sự trở thành động lực và thể chế tạo được không gian đủ rộng cho đổi mới sáng tạo. Đó mới là nền tảng để Việt Nam có thể tăng trưởng nhanh, hiệu quả và bền vững trong một thời gian dài./.
Trân trọng cảm ơn đại biểu!