Thứ Năm, ngày 30 tháng 4 năm 2026

Kỷ niệm 122 năm, ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh (19/5/1890 – 19/5/2012):

Đọc lại bài thơ “Người đi tìm hình của nước”

Cuộc đời của Chủ tịch Hồ Chí Minh ngày càng tỏa sáng cho bao thế hệ trẻ noi theo. Nhân dân thế giới đã tôn vinh Người là Anh hùng giải phóng dân tộc, Nhà văn hóa kiệt xuất. Cuộc đời, sự nghiệp, tư tưởng và đạo đức của Người là niềm cảm hứng sáng tạo vô tận cho các thế hệ nhà văn, nhà thơ, nhạc sĩ …

Trong hàng ngàn bài thơ viết về Chủ tịch Hồ Chí Minh, mỗi nhà thơ có cách diễn đạt khác nhau. Riêng tôi, mỗi lần đọc lại bài thơ: “Người đi tìm hình của nước” của nhà thơ Chế Lan Viên tôi cảm nhận được tầm cao trí tuệ, tứ thơ độc đáo, ngôn từ diễn đạt mới lạ nhưng gần gũi, đọc và hiểu, suy tưởng, càng thấm thía tình yêu nước, thương dân vĩ đại của Bác.

Với thơ Chế Lan Viên, người đọc thấm được chất văn sâu thẳm, thấu hồn người. Đọc “Người đi tìm hình của nước”, ta sẽ cảm nhậm được điều ấy: “Đất nước đẹp vô cùng. Nhưng Bác phải ra đi/ Cho tôi làm sóng dưới con tàu đưa tiễn Bác/ Khi bờ bãi dần lui làng xóm khuất/ Bốn phía nhìn không bóng một hàng tre”.

Đất nước đẹp vô cùng, nhưng vì sao Bác phải ra đi? Câu hỏi đó như một niềm day dứt, lắng trong nỗi hờn vong quốc, được tác giả khắc họa sâu hơn ở đoạn thơ tiếp theo: “Đêm xa nước đầu tiên ai nỡ ngủ/ Sóng vỗ dưới thân tàu đâu phải sóng quê hương/ Trời từ đây chẳng xanh màu xứ sở/ Xa nước rồi càng hiểu nước đau thương”.

Niềm ly xứ, nỗi cảm hoài cho non sông đất nước của Bác theo ngòi bút của tác giả làm hồn ta xao động, yêu thương Bác vô chừng. Nét đặc trưng của bài thơ là ở chỗ tác giả sử dụng nghệ thuật tạo ấn tượng tương phản, vừa nói lên bối cảnh của thời cuộc.

Trong đó vẽ lên những số phận con người đồng thời hàm ý, cũng là nỗi đau của dân tộc, lại mở ra cho người đọc thấy được ý nghĩa sâu xa của sự ra đi tìm đường cứu nước của Bác: “Lũ chúng ta ngủ trong giường chiếu hẹp/ Giấc mơ con đè nát cuộc đời con/ Hạnh phúc đựng trong một tà áo đẹp/ Mái nhà yên rủ bóng xuống tâm hồn”.

Tác giả nhìn xa, nhìn gần, tự trách đời rồi tự trách mình… Ý nghĩ quẩn quanh của một thế hệ tù túng, không tìm được đường, không định được hướng và bế tắc như một thời... Tác giả đã tự thốt lên trong nỗi đau khôn nguôi: “Tôi có chờ đâu, có đợi đâu?/ Đem chi xuân lại gợi thêm sầu”.

Nỗi bế tắc hụt hẫng được nối dài trong u uẩn của tuyệt vọng ngay cả trong giấc ngủ và cơn mơ trần trụi của cuộc đời hiện hữu: “Trăm cơn mơ không chống nổi một đêm dày/ Ta lại mặc cho mưa tuôn và gió thổi/ lòng ta thành con rối/ Cho cuộc đời giật dây”.

Bi kịch bế tắc ấy được tác giả đưa tới cao trào khi nhìn gần, nhìn xa, nhìn Đông, nhìn Tây … tất cả đều vô hồn thiếu sinh khí. Tác giả liên tưởng và nhớ đến lịch sử dựng nước, giữ nước của cha ông mà ngậm ngùi, hoài cảm. Lời thơ như nghẹn lại ở từng câu, từng đoạn: “Quanh hồ Gươm không ai bàn chuyện vua Lê/ Lòng ta thành rêu phong chuyện cũ/ Hiểu sao hết những tấm lòng lãnh tụ/ Tìm đường đi cho dân tộc theo đi”.

Những khổ thơ kế tiếp, Chế Lan Viên đã dùng nhiều hình ảnh mới lạ, diễn đạt bước đường gian truân tìm chân lý của Bác Hồ, những trở trăn, những câu hỏi lặp đi lặp lại như là một trách nhiệm thiêng liêng mà lịch sử đã đặt lên vai của Người: “Ngày mai dân ta sẽ sống sao đây? Sông Hồng chảy về đâu? Và lịch sử …?

Những hoài bảo, ước mơ và cả dự tính tương lai khi nước nhà được tự do, độc lập, được thể hiện theo một cấu tứ dồn dập, cháy bỏng: “Viên gạch hồng chống lại cả mùa băng giá/ giọt mồ hôi Người nhỏ giữa đêm khuya/ Đêm mơ nước ngày thấy hình của nước/ Cây cỏ trong chiêm bao xanh sắc biếc quê nhà”.

Dòng chảy tưởng tượng, qua ngòi bút của Chế Lan Viên bay lượn, nhảy múa trong một không gian huyền ảo đầy chất hiện thực: những “sao vàng bay”, “hầm than, mỏ thiếc”, “Điện theo trăng vào phòng ngủ công nhân”, “Mái rạ nghìn năm hồng thay sắc lá/ Những đời thường cũng có bóng hoa che”.

Những ước mơ kia đến gần sự thật và cụ thể hơn bao giờ hết với một sự kiện vô cùng quan trọng của quá trình tìm đường cứu nước của Người: “Luận cương đến với Bác Hồ và Người đã khóc/ Lệ Bác Hồ rơi trên chữ Lê-Nin”.

Thơ sâu ở chỗ “ý tại, ngôn ngoại”. Đọc “Người đi tìm hình của nước”, mỗi người cảm nhận và tự suy nghĩ theo từng câu chữ, ý tình của tác giả; đồng thời vừa mở rộng sự cảm thụ, nhận thức nghệ thuật và thẩm mỹ cho mình.

Đặc biệt, trong hai câu kết của bài thơ, tác giả đã vẽ lên hình tượng Bác Hồ lồng lộng giữa vùng biên giới hùng vĩ của Tổ quốc – là hình ảnh của nước Việt Nam thân yêu, tươi đẹp màu tương lai vĩnh cửu: “Kìa, bóng Bác đang hôn lên hòn đất/ Lắng nghe trong màu hồng hình đất nước phôi thai”.

Nguyễn Ngọc Cơ

Ý kiến bạn đọc

refresh
 

Tổng lượt bình luận

Tin khác

Thông báo