Đồng hành hỗ trợ doanh nghiệp
Bàn về động lực tăng trưởng kinh tế, đại biểu (ĐB) Trịnh Xuân An (Đồng Nai) đề nghị Chính phủ tập trung giảm lãi suất cho vay thực tế, điều tiết thanh khoản và giảm chi phí hoạt động ngân hàng. Đồng thời, cần minh bạch lãi suất, phí vay; đổi mới bảo lãnh tín dụng, cho vay theo dòng tiền, đơn hàng, chuỗi cung ứng và hỗ trợ doanh nghiệp khó khăn thông qua cơ cấu thời hạn trả nợ, khoanh nợ khi đủ điều kiện.
ĐB Trịnh Xuân An nhấn mạnh, Chính phủ cần đánh giá chất lượng tăng trưởng dựa trên thu nhập thực, việc làm bền vững, khả năng tích lũy của người dân và năng lực tái đầu tư của doanh nghiệp trong nước, bởi các chỉ số tăng trưởng chưa phản ánh đầy đủ gánh nặng chi tiêu thực tế.
Theo ĐB, mặc dù thu nhập bình quân của người lao động trong 9 tháng tăng khoảng 9%, nhưng do Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tăng 4,52% nên thu nhập thực tế chỉ tăng khoảng 4,3%. “Người dân phải được thụ hưởng thành quả phát triển ngay trong quá trình tăng trưởng, vì đây vừa là mục tiêu, vừa tạo ra sức mua, niềm tin và động lực để nền kinh tế phát triển bền vững”, ĐB bình luận.
Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Hồng điều hành phiên họp Quốc hội, sáng 31/10. Ảnh: QUANG PHÚCĐồng quan điểm về gánh nặng của cộng đồng doanh nghiệp, ĐB Nguyễn Cao Sơn (Phú Thọ), Phó Chủ tịch Hiệp hội doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam đề nghị mở rộng quy mô, đối tượng chương trình tín dụng ưu đãi cho doanh nghiệp nhỏ và vừa, người mua nhà ở xã hội; cắt giảm các khoản phí bảo lãnh dự thầu và phí thực hiện hợp đồng…
Đối với các khó khăn về đầu tư và chi phí đầu vào, ĐB Nguyễn Cao Sơn đề xuất ban hành cơ chế điều chỉnh đơn giá hợp đồng xây lắp đầu tư công ký trước ngày 1/1/2026; sửa đổi quy định về khoáng sản theo hướng đưa đất thông thường làm vật liệu san lấp ra khỏi danh mục khoáng sản nhóm 4; giảm thuế tiêu thụ đặc biệt đối với xăng về 0%, kéo dài thời hạn hỗ trợ thuế bảo vệ môi trường và thuế GTGT đối với dầu diesel; giảm giá điện, ưu đãi vốn vay cho thiết bị nhập khẩu năng lượng tái tạo và nâng cấp lưới điện trung, hạ áp phục vụ sản xuất…
ĐB Trần Thị Vân (Bắc Ninh) nhìn nhận, những điểm nghẽn lớn nhất hiện nay không phải do thiếu luật, mà nằm ở độ trễ chính sách và năng lực tổ chức thực thi.
ĐB kiến nghị một số giải pháp trọng tâm, nhấn mạnh yếu tố đổi mới tư duy quản trị, chuyển từ quản lý quy trình thủ tục sang quản lý theo mục tiêu và kết quả; bảo vệ cán bộ dám nghĩ, dám làm vì lợi ích chung.
ĐB Trịnh Xuân An (Đồng Nai). Ảnh: QUANG PHÚC"Thuận thiên" không có nghĩa là thụ động chấp nhận
Lo ngại trước những vấn đề nghiêm trọng đặt ra cho vùng đồng bằng sông Cửu Long do biến đổi khí hậu, ĐB Nguyễn Bình Tân (Cà Mau) nêu quan điểm phát triển "thuận thiên" không có nghĩa là thụ động chấp nhận sống chung với ngập úng, triều cường, sạt lở hay xâm nhập mặn.
ĐB Nguyễn Bình Tân nhận định, "thuận thiên" là lựa chọn mô hình phát triển phù hợp sinh thái nhưng phải chủ động đầu tư hệ thống thủy lợi, đê biển, cống kiểm soát triều và hạ tầng giao thông thích ứng.
Bí thư Thành ủy TPHCM Trần Lưu Quang và các đại biểu dự họp. Ảnh: QUANG PHÚCPhản ánh tiến độ thực tế nhiều dự án trọng điểm còn chậm, ĐB Nguyễn Bình Tân đề nghị Chính phủ khẩn trương hoàn thiện thủ tục, bố trí vốn trung hạn triển khai đồng bộ 8 dự án trọng điểm chống biến đổi khí hậu (như hệ thống kiểm soát điều tiết nguồn nước phía nam quốc lộ 1A tại Cà Mau, vùng bờ nam sông Hậu). ĐB cũng kiến nghị tích hợp quy hoạch tuyến đường giao thông ven biển với hệ thống đê, cống kiểm soát triều cường và xây dựng danh mục ưu tiên đầu tư phân bổ vốn theo mức độ rủi ro, quy mô dân cư được bảo vệ.
Cùng hướng tới phát triển bền vững và bảo vệ môi trường, theo ĐB Tạ Thị Yên (Điện Biên), cần ghi nhận đầy đủ đóng góp sinh thái của rừng đầu nguồn đối với an ninh nguồn nước; triển khai hiệu quả các chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng và dịch vụ hấp thụ, lưu giữ carbon rừng.
ĐB Nguyễn Bình Tân (Cà Mau). Ảnh: QUANG PHÚCĐB đề xuất ưu tiên đầu tư hạ tầng giao thông kết nối vùng nguyên liệu với cơ sở sơ chế, chế biến, kho lạnh và logistics để giảm chi phí vận chuyển, thu hút doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp miền núi.
Giải trình các ý kiến của ĐB về giảm thiểu thiệt hại thiên tai, sạt lở, sụt lún, hạn hán và xâm nhập mặn tại đồng bằng sông Cửu Long và khu vực Nam bộ, Bộ trưởng Bộ NN-MT Trịnh Việt Hùng thông tin, giai đoạn 2021-2025, Trung ương đã bố trí khoảng 40.000 tỷ đồng cho mục tiêu này.
Theo Bộ trưởng, nhu cầu vốn toàn quốc cho phòng, chống thiên tai, lũ quét, sạt lở và xâm nhập mặn khoảng 210.000 tỷ đồng, trong khi ngân sách trung ương mới đáp ứng được 50%, nên phải phân kỳ đầu tư. Với 8 dự án trọng điểm tại ĐBSCL, bộ đã hoàn thành phê duyệt chủ trương đầu tư trước ngày 30/10, đúng lộ trình.
Về dự án phòng chống lũ lụt sông Cầu (Thái Nguyên) sau đợt bão lũ tháng 9/2025, Bộ trưởng cho biết, sau thiên tai, địa phương đã khởi công 3 dự án cấp bách. Tuy nhiên, khi chuyển sang giai đoạn 2026-2031 (đã qua hơn 1 năm), việc đầu tư không thể tiếp tục dùng nguồn vốn khẩn cấp, mà phải tuân thủ quy trình đầu tư công thông thường.
Bộ trưởng Bộ NN-MT Trịnh Việt Hùng. Ảnh: QUANG PHÚC“Theo Luật Đầu tư công, dự án do tỉnh phê duyệt chủ trương phải sử dụng ngân sách địa phương, còn các hạng mục đê điều thuộc trách nhiệm của bộ đều đã được bố trí vốn trung hạn theo đúng quy định”, Bộ trưởng khẳng định.
Trước đó, ĐB Nguyễn Thanh Phong (Vĩnh Long) dẫn Kết luận 26 của Bộ Chính trị về phòng chống sụt lún, sạt lở, ngập úng, hạn hán, xâm nhập mặn vùng ĐBSCL giai đoạn 2026-2035. Theo ĐB, các nguyên nhân căn bản gồm biến đổi khí hậu, suy giảm nguồn nước thượng nguồn, khai thác cát và nước ngầm vượt khả năng phục hồi của tự nhiên.
Đại biểu Quốc hội dự họp. Ảnh: QUANG PHÚCĐây là bài toán vượt quá khả năng xử lý riêng lẻ của từng địa phương. Vì vậy, ĐB đề xuất xây dựng cơ sở dữ liệu số toàn vùng, thống nhất thông tin về nước mặt, nước ngầm, khai thác cát, sụt lún và sạt lở, không chia cắt theo địa giới hành chính.
ĐB nhấn mạnh tầm quan trọng của quy hoạch vùng dự trữ nước ngọt chiến lược, hạn chế hoặc dừng khai thác cát và nước ngầm tại các khu vực nguy hiểm.
Trong giai đoạn 2026-2031, Chính phủ tiếp tục phân bổ 15.000 tỷ đồng và 8.500 tỷ đồng (tổng cộng khoảng 23.500 tỷ đồng) nhằm thực hiện Kết luận 26 của Bộ Chính trị về phòng chống sạt lở, sụt lún, hạn hán và xâm nhập mặn.