Tám tháng chuyển giao nhiệm vụ lịch sử
Ngày 3/5/1975, Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam ra quyết định thành lập Ủy ban Quân quản thành phố Sài Gòn – Gia Định, thực thi nhiệm vụ của cơ quan quyền lực cao nhất đầu tiên của nhân dân Thành phố sau 30/4/1975.
Hoạt động của Ủy ban Quân quản trong 8 tháng (3/5/1975 – 24/1/1976) cùng sự lãnh đạo của Thành ủy đã tập trung giải quyết có hiệu quả một khối công việc bộn bề ở thời điểm chuyển giao lịch sử tại một địa bàn trọng điểm, từ chiến tranh sang hòa bình; từ thủ phủ, đầu não của bộ máy chiến tranh xâm lược sang một thành phố lớn của đất nước Việt Nam hòa bình, thống nhất. Với quan điểm chiến thắng của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước với đỉnh cao là chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử kết thúc vào 30/4/1975 là chiến thắng của tất cả mọi người Việt Nam đối với kẻ thù xâm lược, Ủy ban Quân quản đã thực hiện chính sách đại đoàn kết, hòa hợp dân tộc, trao quyền công dân của nước Việt Nam thống nhất cho gần 96% tổng số sĩ quan binh lính và nhân viên chế độ cũ(1). Thực hiện chiến dịch “giữ gìn trật tự, trị an xã hội”, Ủy ban Quân quản đã tập trung ổn định đời sống quần chúng, cứu tế đồng bào thiếu đói, đưa dần một bộ phận quần chúng bị địch di tản vào thành phố hồi cư, từng bước giải quyết công ăn việc làm cho hàng vạn người thất nghiệp. Đồng thời truy lùng tàn binh, trấn áp bọn phản cách mạng, truy quét các tội phạm hình sự thoát ra từ nhà tù cùng du đảng, các đối tượng tệ nạn xã hội như ma túy, mại dâm, bụi đời…, thiết lập trật tự trị an của Thành phố Sài Gòn – Gia Định từ những ngày đầu được giải phóng. Đặc biệt, Ủy ban Quân quản đã đặt những viên gạch đầu tiên trong sự nghiệp xây dựng chính quyền các cấp của Thành phố. Trên cơ sở sắp xếp lại các đơn vị hành chính các cấp của Thành ủy, Ủy ban Quân quản đã kết hợp điều động nhân sự, xây dựng chính quyền cách mạng cấp cơ sở ở phường, khóm, ấp.
 |
Đại lộ Võ Văn Kiệt. (Ảnh: Hoàng Hải) |
Dù chỉ tồn tại trong 8 tháng, Ủy ban Quân quản Sài Gòn – Gia Định đã có nhiều nỗ lực vượt qua những khó khăn, thử thách và cả hiểm nghèo, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ lịch sử của mình. Đó là thời kỳ đặc biệt, mở đầu sự nghiệp xây dựng và phát triển thành phố 40 năm qua.
Vượt lên chính mình, tìm con đường phát triển phù hợp, góp phần tạo tiền đề đổi mới
Thập niên đầu trong 40 năm xây dựng và phát triển của TPHCM là thời kỳ đầy sóng gió, nhiều phức tạp, và từ bối cảnh ấy, TPHCM đã “vượt lên chính mình”, nỗ lực phấn đấu, “bước ra khỏi vòng phấn do ta khoanh, thoát ra khỏi cảnh làm tù bình của chúng ta”, tạo ra những mốc son, làm nên những sự kiện mang tính lịch sử của thành phố, đặc biệt trên lĩnh vực phát triển kinh tế và quản lý phát triển xã hội.
Sau vài năm đầu, khi dự trữ nguyên liệu cạn kiệt, tình hình kinh tế ngày càng sa sút nghiêm trọng. Sản xuất, dịch vụ xuống dốc; giá cả thị trường tăng liên tục. Lại thêm chiến tranh biên giới Tây Nam, biên giới phía Bắc; thiên thai xảy ra ba năm liền ở Nam bộ, ảnh hưởng đến vựa lúa đồng bằng sông Cửu Long. Chiến tranh, đói kém, tệ nạn xã hội, sự chống phá của các thế lực phản động, thù địch… cùng những sai lầm, duy ý chí trong cải tạo và xây dựng kinh tế, trong quản lý điều hành xã hội, tình trạng “ngăn sông cấm chợ”, “bán như cho, mua như cướp”… gây nên tâm lý bất an cho mọi tầng lớp xã hội. Lần đầu tiên trong lịch sử, người dân Sài Gòn phải ăn độn bo bo, khoai, sắn, có khi lên tới 90%. Người dân truyền nhau phương ngôn “ban ngày cả nước lo việc nhà, ban đêm cả nhà lo việc nước” (“việc nhà” là bó rau, lon gạo, chai nước mắm…; “Việc nước” là lo đi hứng nước để nấu ăn, tắm giặt…). Hình ảnh từng đoàn người rồng rắn xếp hàng cả ngày trước các cửa hàng lương thực quốc doanh…, cảnh từng nhà rải gạo lên mâm để lượm thóc, trấu, bông cỏ… trở thành nỗi trăn trở ray rứt, suy gẫm thường trực của những người lãnh đạo vốn xuất thân từ dân, sống gắn bó với dân trong những năm tháng khốc liệt của chiến tranh, thề hẹn suốt đời lo cho dân. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ ra “Chúng ta tranh được tự do, độc lập rồi mà dân cứ chết đói, chết rét thì tự do, độc lập cũng không làm gì. Dân chỉ biết rõ giá trị của tự do, của độc lập khi mà dân được ăn no, mặc đủ”(2). Tục ngữ có câu “Dân dĩ thực vi thiên”, nghĩa là dân lấy ăn làm trời, nếu không có ăn là không có trời” vì vậy chính sách của Đảng và Chính phủ là phải hết sức chăm lo đến đời sống của nhân dân. Nếu dân đói, Đảng và Chính phủ có lỗi; nếu dân rét là Đảng và Chính phủ có lỗi; nếu dân dốt là Đảng và Chính phủ có lỗi; nếu dân ốm là Đảng và Chính phủ có lỗi…”(3). Thấm nhuần lời dạy của Bác Hồ, TPHCM đã tích cực tháo gỡ khó khăn, khôi phục sản xuất, phát triển kinh doanh, chăm lo cải thiện đời sống cho nhân dân. Bám sát thực tiễn, hiểu dân, trọng dân, lo cho dân là động lực và mục tiêu của sự sáng tạo, là phương châm, phương thức lãnh đạo, chỉ đạo của Thành ủy TPHCM. Với chủ trương “phải biết phân tích những đặc điểm lịch sử của Thành phố và con người thành phố để chọn lựa hướng đột kích chủ yếu”, trong điều kiện cuộc đấu tranh giữa bảo thủ và trì trệ với đổi mới cách nghĩ, cách làm diễn ra gay gắt, bất phân thắng bại, thậm chí còn bị ngộ nhận, chụp mũ, vốn tin dân, trọng dân, luôn dựa vào dân như Bác Hồ đã dạy, Thành ủy TPHCM đã kiên trì chủ trương tăng cường xuống cơ sở, gặp gỡ cán bộ và nhân dân, lắng nghe tâm tư nguyện vọng, thắc mắc của dân, rồi cùng cán bộ cơ sở bàn bạc, tháo gỡ bằng những giải pháp, bước đi mang tính đột phá, mạnh dạn “phá rào”, thực hiện “cởi trói” về cơ chế để giúp sản xuất “bung ra”, cải tiến lĩnh vực lưu thông phân phối mở rộng thị trường, trước hết là thị trường Nam Bộ và thị trường quốc tế, tạo công ăn việc làm, cải thiện, nâng cao đời sống nhân dân. Những việc làm như xóa bao cấp, thực hiện 3 lợi ích, lương sản phẩm trong xí nghiệp, khoán sản phẩm trong nông nghiệp, trong đánh bắt cá ngoài biển, vấn đề cải tạo công thương nghiệp, hợp doanh, nhập khẩu nguyên liệu, khôi phục các ngành thủ công nghiệp v.v…, với các địa chỉ như Công ty Lương thực Thành phố, gạch bông Đức Tân, câu lạc bộ Giám đốc, dệt Thành Công, Phước Long, Phong Phú, Việt Thắng, cao su Phạm Hiệp, Công ty bột giặt miền Nam (VISO), nhà máy bia Sài Gòn, Xí nghiệp cơ khí Caric, Sinco v.v… những điển hình, những sự kiện của một thời đoạn lịch sử Thành phố đầy cam go và đầy năng động, sáng tạo. Đặc biệt, một sự kiện khắc ghi như là một mốc son lịch sử của quá trình đổi mới tư duy trong việc hoạch định chính sách phát triển của Thành phố trong 10 năm đầu sau ngày giải phóng – đó là sự kiện “Hội nghị Đà Lạt” vào trung tuần tháng 7 năm 1983. Với quan điểm “thực tiễn là ông Thầy kiểm nghiệm chính xác, người phán xét cuối cùng” và tất cả là vì lợi ích của người lao động, vì cuộc sống của người dân, từ khảo sát thực tiễn, tổng kết những thí điểm về đổi mới để có cách làm ăn có hiệu quả, bảo đảm đời sống công nhân, phát triển sản xuất kinh doanh, đồng chí Bí thư Thành ủy Nguyễn Văn Linh đã tổ chức cho giám đốc các doanh nghiệp trên địa bàn thành phố có cách làm ăn mới theo cơ chế của Thành phố trực tiếp báo cáo với các đồng chí lãnh đạo cao cấp của Trung ương đang nghỉ mát ở Đà Lạt (đồng chí Trường Chinh, Phạm Văn Đồng…), rồi mời các đồng chí về Thành phố tham quan, khảo sát thực tế… Sự kiện đó không chỉ “minh oan” cho cách làm theo kiểu “phá rào”, “làm lén” của Thành phố để cố vượt ra khỏi cơ chế cũ, bảo thủ, vượt ra khỏi vòng xoáy khủng hoảng nghiêm trọng của đất nước trước 1985, mà còn tác động tích cực, có hiệu quả đến sự hình thành đường lối đổi mới. “Hội nghị Đà Lạt” tháng 7/1983 là một dấu ấn đáng ghi nhớ trong quá trình lãnh đạo đầy bản lĩnh, năng động, sáng tạo của Thành ủy TPHCM.
Nhờ kiên trì bám sát thực tiễn, năng động, dám làm, dám chịu trách nhiệm và được Trung ương hỗ trợ, sự kiên quyết tháo gỡ khó khăn đã tạo điều kiện cho tăng trưởng kinh tế trên địa bàn Thành phố đạt kết quả rõ rệt. Tốc độ tăng trưởng bình quân mỗi năm thời kỳ 1980-1985 đạt 8,17% so với 2,18% thời kỳ 1976-1980; thu ngân sách địa phương năm 1985 gấp 43 lần năm 1980.
Những sự kiện trên đây là những dấu ấn lịch sử của quá trình xây dựng và phát triển của TP trong 10 năm đầu sau ngày giải phóng, nhưng chắc rằng không chỉ có ý nghĩa trong quá khứ, mà mãi mãi vẫn có giá trị trong quá trình xây dựng, phát triển, hội nhập hiện nay. Bài học bám sát thực tiễn, dựa vào sức mạnh của dân, phát huy tính năng động, sáng tạo của con người thành phố, của mọi tầng lớp xã hội cũng như phong cách làm việc sâu sát, cụ thể, phát huy trí tuệ của tập thể, của nhân dân, tìm cách, lựa chọn đột phá thích hợp, tạo ra thế và lực mới cho thành phố không ngừng phát triển… là bài học quý báu trở thành truyền thống và thế mạnh của TPHCM.
 |
Một góc TPHCM bên bờ kênh Bến Nghé. (Ảnh: Hoàng Hải) |
Đi đầu trong sự nghiệp đổi mới, hội nhập
Với tinh thần của Đại hội lần thứ VI của Đảng “tôn trọng sự thật, nhìn thẳng vào sự thật, nói rõ sự thật” TPHCM cùng cả nước đã dứt khoát với cơ chế quản lý tập trung quan liêu bao cấp để tiến hành đổi mới, đưa Thành phố “cùng cả nước, vì cả nước” bước vào thời kỳ lịch sử mới. Với những “vốn quý” từ những thành công và kinh nghiệm vượt qua cản trở của cơ chế cũ, với tinh thần cách mạng không mệt mỏi, không khoan nhượng trước những gì trì trệ, với truyền thống luôn khích lệ lựa chọn cái mới, được đường lối đổi mới của Đảng soi đường, TPHCM nhanh chóng vượt qua cơn khủng hoảng kéo dài từ giai đoạn trước, tiến bước vững chắc vào sự nghiệp đổi mới toàn diện, mạnh mẽ trong bối cảnh mới của đất nước và quan hệ quốc tế.
Thành phố luôn giữ vai trò đầu tàu trong tăng trưởng kinh tế, thu hút đầu tư, tạo nguồn ngân sách và giải quyết các vấn đề xã hội.
Kinh tế Thành phố tăng trưởng liên tục, kể cả những thời kỳ khó khăn. Từ 1991 đến 1995, kinh tế thành phố tăng mạnh, từ 9,8% năm 1991 lên 15,3% năm 1995. Thời kỳ 1996-2000 do ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính – tiền tệ, tốc độ tăng trưởng GDP có giảm sút nhưng TPHCM vẫn là một địa phương có tốc độ tăng trưởng cao nhất cả nước (9,0%). Bước vào thế kỷ 21, tốc độ tăng trưởng GDP của Thành phố tăng liên tục trong 6 năm liền, năm sau cao hơn năm trước, từ 9,5% năm 2001 lên 11,6% năm 2004, 12,2% năm 2006 và 12,6% năm 2007. Từ năm 2008, do chịu ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính, suy thoái kinh tế toàn cầu, các chỉ tiêu phát triển kinh tế - xã hội xuống thấp trầm trọng. Dưới sự chỉ đạo sát sao của Trung ương, Thành phố đã lãnh đạo, chỉ đạo quyết liệt, thực hiện rốt ráo các quyết sách của Trung ương Đảng, các nhóm giải pháp của Chính phủ, huy động mọi nguồn lực, động viên mọi nỗ lực của các cấp, các ngành, phấn đấu vượt qua cơn khủng hoảng, đạt mức tăng trưởng hợp lý, đóng góp cho cả nước hơn 1,7% trong tổng số 5,32% mà cả nước đã đạt được trong năm có mức tăng trưởng thấp nhất (2009). Bình quân trong năm (2006-2010) GDP cả nước tăng 7%, TPHCM tăng 11%. Sự đóng góp của Thành phố cho cả nước ngày càng cao, chiếm từ 13% GDP của cả nước trong những năm đầu đổi mới, đến nay đã nâng lên 20%, có năm trên 21%.
Qui mô kinh tế Thành phố ngày càng mở rộng, cơ cấu kinh tế chuyển dịch đúng hướng, các nguồn lực xã hội được phát huy; các ngành, các lĩnh vực đều phát triển. Với ưu thế đặc biệt, từ sân bay, bến cảng đến tài chính, ngân hàng, nhà hàng, khách sạn… TPHCM là trung tâm thương mại – dịch vụ lớn, là nơi xuất khẩu chiếm tỷ lệ khá cao của cả nước: hơn 25% tổng mức bán lẻ hàng hóa và dịch vụ; hơn 36% kim ngạch xuất khẩu. Đây là ngành chiếm tỷ trọng lớn trong cơ cấu GDP của Thành phố (hiện nay là 59,6%) có tốc độ tăng trưởng cao, nhất là tài chính – ngân hàng; du lịch; vận tải – dịch vụ cảng – kho bãi; bưu chính – viễn thông. Lĩnh vực công nghiệp – xây dựng chiếm 39,4% GDP, đang phát triển những ngành có hàm lượng công nghệ và giá trị gia tăng cao. Là trung tâm công nghiệp của khu vực phía Nam và cả nước, từ ngày đổi mới, TPHCM đã xây dựng nhiều cơ sở công nghiệp khá hiện đại, đa dạng ngành nghề. Đặc biệt TPHCM là nơi xây dựng khu chế xuất đầu tiên của nước ta, cùng với trên mười khu công nghiệp đang đóng vai trò quan trọng trong công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Đây cũng là nơi đi đầu trong công nghệ thông tin, công nghiệp công nghệ cao.
TPHCM là địa phương thu hút vốn đầu tư trong và ngoài nước nhiều nhất trong cả nước. Vốn đầu tư phát triển của Thành phố từ chỗ chiếm 5,03% tổng vốn đầu tư phát triển cả nước vào năm 1976 đến nay đã chiếm khoảng 21%. Dù phải đương đầu với nhiều khó khăn, nhất là quá tải về cơ sở hạ tầng, đất đai chật hẹp, lại là nơi “đầu sóng ngọn gió” của cơn bão khủng hoảng tài chính tiền tệ, suy thoái kinh tế toàn cầu, song đến nay TPHCM vẫn là địa phương dẫn đầu về thu hút đầu tư nước ngoài (FDI). Với chủ trưởng “chủ động hội nhập quốc tế, cải thiện môi trường đầu tư thông thoáng để thu hút mạnh nguồn lực đầu tư vào những ngành, lĩnh vực kinh tế phù hợp với chiến lược và quy hoạch phát triển Thành phố”, đã triển khai thực hiện đồng bộ nhiều giải pháp, tập trung cải cách thủ tục hành chính, tạo môi trường đầu tư thông thoáng, minh bạch, đơn giản hóa và công khai hóa qui trình đối với đầu tư nước ngoài; tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin trong quá trình quản lý và cấp giấy chứng nhận đầu tư, thực hiện liên thông các sở, ngành trong việc thực hiện các thủ tục đầu tư. Đồng thời tích cực phát triển hạ tầng cơ sở, các công trình giao thông, cải thiện môi trường. Thường xuyên đẩy mạnh hoạt động xúc tiến, thu hút đầu tư dưới nhiều hình thức, tăng cường tiếp xúc, đối thoại với các doanh nghiệp để lắng nghe kiến nghị và giải quyết các khó khăn, vướng mắc, hỗ trợ cung cấp thông tin đến doanh nghiệp, tạo niềm tin cho các nhà đầu tư. Với điều kiện khách quan và những nỗ lực chủ quan của Thành phố, từ khi có Luật đầu tư nước ngoài đến nay, số dự án đầu tư nước ngoài vào Thành phố còn có hiệu lực là 5.280 dự án, với tổng giá trị vốn đầu tư đăng ký đạt 36,26 tỷ USD, chiếm 15,15% tổng vốn đầu tư còn hiệu lực trong cả nước(4).
Cùng với đà tăng trưởng kinh tế nhanh, mức sống vật chất của dân cư ngày càng được cải thiện và nâng cao. GDP đầu người/năm năm 1985 đạt 586 USD, nay đã nâng lên 5.131 USD/người/năm.
Diện mạo Thành phố ngày càng khang trang, hiện đại. Trong 40 năm qua, nhất là sau Đổi mới, Thành phố tập trung các nguồn lực thực hiện quy hoạch đô thị, tăng cường quản lý đô thị, xây dựng kết cấu hạ tầng, xây dựng đô thị ngày càng văn minh, hiện đại. Không gian đô thị được điều chỉnh, gắn với Vùng đô thị TPHCM, vùng kinh tế trọng điểm phía Nam. Kết cấu hạ tầng đô thị được tập trung đầu tư, cải tạo, nâng cấp, mở rộng, xây dựng các đường vành đai, kết hợp đường trục xuyên tâm, quy hoạch, xây dựng giao thông trên cao và giao thông ngầm, tăng thêm diện tích dành cho giao thông tĩnh, phục vụ ngày càng tốt hơn đời sống nhân dân. Xây dựng đường sắt đô thị, đường cao tốc, luồng tàu đường biển, đường sông, kết nối với hạ tầng các tỉnh trong Vùng đô thị TPHCM, đồng bằng sông Cửu Long, Nam Tây Nguyên.
 |
Khu đô thị mới Phú Mỹ Hưng, Quận 7. (Ảnh: T. Hoàng) |
Các quận nội thành được chỉnh trang; các quận đang phát triển được đô thị hóa nhanh chóng, các khu đô thị mới hiện đại (Phú Mỹ Hưng, Thủ Thiêm, Tây Bắc, cảng Hiệp Phước…) đã được hình thành và đang tiếp tục đẩy nhanh tiến độ xây dựng.
Trong quá trình phát triển, TPHCM luôn chú trọng phát triển kinh tế gắn liền với phát triển văn hóa, giải quyết những vấn đề xã hội.
Giáo dục – đào tạo không ngừng phát triển. TPHCM là địa phương đi đầu cả nước và phổ cập giáo dục, đến nay đã hoàn thành mục tiêu phổ cập giáo dục bậc trung học phổ thông, nâng cao mặt bằng dân trí, giảm khoảng cách giữa giáo dục nội thành và ngoại thành. “Xã hội hóa” giáo dục các cấp học và các loại hình đào tạo được đẩy mạnh; phát triển mô hình liên kết, hợp tác đào tạo với các cơ sở đào tạo nước ngoài có chất lượng cao; phát triển “khuyến học”, “khuyến tài” góp phần tích cực vào việc xây dựng xã hội học tập. Các cơ sở giáo dục – đào tạo bậc đại học và sau đại học trên địa bàn TPHCM phát triển nhanh, củng cố vững chắc vị trí trung tâm đào tạo lớn của khu vực phía Nam và cả nước.
Khoa học – công nghệ tập trung cho mục tiêu phục vụ phát triển kinh tế xã hội của Thành phố, đi sâu ứng dụng trong các lĩnh vực công nghiệp, nông nghiệp, xây dựng… tạo ra nhiều sản phẩm, dịch vụ có chất lượng và sức cạnh tranh cao. Sự liên kết giữa doanh nghiệp, cơ quan nghiên cứu và cơ quan quản lý nhà nước được hình thành và ngày càng chặt chẽ; thị trường công nghệ bước đầu được tạo lập như hội chợ khoa học công nghệ hàng năm, hội chợ thiết bị - công nghệ qua mạng chào bán các thiết bị công nghệ mới, giải pháp phần mềm, dịch vụ công nghệ… Các cơ quan nghiên cứu khoa học truyền thống được củng cố và tăng cường đầu tư, đồng thời thành lập và đẩy mạnh hoạt động các cơ sở khoa học mới như Khu công nghệ cao, Công viên phần mềm Quang Trung, Viện Khoa học và Công nghệ tính toán; thực hiện chính sách thu hút chuyên gia, nhà khoa học trong và ngoài nước. Hình thành đội ngũ cán bộ khoa học công nghệ có trình độ cao, làm chủ được các kỹ thuật hiện đại như sinh học phân tử, công nghệ gen, công nghệ tách chiết tinh sạch protein, công nghệ nuôi tế bào động vật và thực vật…
Đời sống văn hóa xã hội Thành phố ngày càng phong phú, đa dạng. Những giá trị tinh thần mang đặc trưng của nhân dân Thành phố như tinh thần nhân ái, làm việc nghĩa, giúp đỡ người nghèo, năng động, sáng tạo… không ngừng được phát huy. TPHCM là nơi khởi xướng và thực hiện đầu tiên trong cả nước phong trào “đền ơn đáp nghĩa”; “xây dựng nhà tình nghĩa, nhà tình thương”; “chương trình xóa đói giảm nghèo”; “bảo trợ bệnh nhân nghèo”; “nụ cười cho trẻ thơ”; “phụng dưỡng Mẹ Việt Nam anh hùng” v.v… mang lại hiệu quả thiết thực, có ý nghĩa kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội rộng lớn, mang tính nhân văn cao, có sức lan tỏa mạnh, thể hiện sinh động bản chất chế độ xã hội mới… Thành phố đã tập trung nguồn lực, ưu tiên đầu tư nâng cấp các công trình, thiết chế văn hóa; tạo ra nhiều phong trào, thực hiện nhiều cuộc vận động xây dựng môi trường văn hóa đô thị lành mạnh, văn minh, xây dựng nếp sống thị dân, tôn trọng pháp luật, kỷ cương, tác phong công nghiệp; đưa lối sống văn hóa thấm sâu vào từng người, từng gia đình, từng khu dân cư, từng công sở, doanh nghiệp…
Thành phố là nơi khởi xướng chương trình xóa đói giảm nghèo – một chương trình mang ý nghĩa vừa cấp bách vừa có tính chiến lược lâu dài, đã trở thành chương trình hành động của cả nước. Tiêu chí xác định thu nhập của hộ nghèo luôn cao hơn so với mức trung bình của cả nước. Năm 1992, khi chương trình được khởi xướng, tiêu chuẩn nghèo là thu nhập bình quân dưới 1 triệu đồng/người/năm ở nội thành và dưới 700.000 đồng ở ngoại thành. Sau đó lần lượt nâng lên 3,6 triệu đồng/người/năm ở nội thành và 3 triệu đồng/người/năm ở ngoại thành rồi nâng lên cả nội – ngoại thành 6 triệu đồng/người/năm, và nay là 12 triệu đồng/người/năm. Chương trình giảm hộ nghèo, tăng hộ khá đang được triển khai và nỗ lực thực hiện để không ngừng nâng cao mức sống cho người dân, bảo đảm sự phát triển bền vững của Thành phố.
Vấn đề Chăm lo sức khỏe của nhân dân ngày càng tốt hơn. Mạng lưới y tế cơ sở, chăm sóc sức khỏe cộng đồng không ngừng được củng cố, cơ sở vật chất ngành y tế được nâng cấp, mở rộng (đạt 40 giường bệnh/vạn dân), hệ thống bệnh viện tư nhân, bệnh viện có vốn đầu tư nước ngoài, một số cơ sở y tế kỹ thuật, chất lượng cao… góp phần đáp ứng nhu cầu chữa bệnh cho mọi đối tượng. Chủ trương xã hội hóa y tế của Chính phủ, chủ trương kích cầu của Ủy ban nhân dân Thành phố đã tạo đòn bẩy, động lực cho sự phát triển các bệnh viện. Hàng loạt bệnh viện như Hùng Vương, Từ Dũ, Phạm Ngọc Thạch, Răng Hàm Mặt, Tai Mũi Họng…, các khoa chẩn đoán kỹ thuật cao được xây dựng khang trang và đầu tư trang thiết bị hiện đại, tạo nền tảng cho sự phát triển ngành, giúp nâng cao chất lượng phục vụ người bệnh, hạn chế phần nào tình trạng “chảy máu nội tệ” hàng năm từ 500 triệu đến 1 tỷ USD do có hàng chục ngàn người sang Singapore chữa bệnh.
40 năm TPHCM cùng cả nước xây dựng và phát triển, đổi mới và hội nhập đã trải qua bao thăng trầm với nhiều khó khăn thử thách, có những va vấp khuyết điểm, song nhìn tổng thể, TPHCM đã có sự phát triển vượt bậc trên mọi lĩnh vực, đã đạt được những thành tựu to lớn, toàn diện, tạo sự chuyển biến căn bản trong đời sống xã hội, góp phần quan trọng vào thành tựu chung của vùng và cả nước. Trong đó có những mốc son, nhiều điểm sáng mang tính điển hình, nhiều sự kiện có ý nghĩa lịch sử, vừa là hành trang, vừa là bài học kinh nghiệm để tiếp tục phát triển cao hơn. Thành phố đã vinh dự được Đảng, Nhà nước phong tặng các danh hiệu cao quý: “Thành phố Anh hùng”, “Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân”, “Anh hùng lao động thời kỳ đổi mới”, được hai lần tặng thưởng Huân chương Sao Vàng.
..............................................................
(1) Chỉ sau 3 ngày đăng ký, trình diện, học tập có 424.470 binh lính chế độ cũ được trở về đời sống công dân bình thường.
(2) Hồ Chí Minh - Toàn tập – Tập 4. NXB Chính trị quốc gia – 2011, tr.145.
(3) Hồ Chí Minh - Toàn tập – Tập 9. NXB Chính trị quốc gia – tr.518.
(4) Thành phố Hồ Chí Minh – Phát triển và hội nhập. NXB Tổng hợp TP.HCM – 2014, tr.101.