Về tăng trưởng kinh tế, trong 40 năm qua, TPHCM đã quán triệt, vận dụng, thực hiện sáng tạo đường lối phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa của Đảng, bám sát thực tiễn, luôn tìm tòi, sáng tạo, mạnh dạn thể nghiệm nhiều cơ chế, chính sách mới để thúc đẩy sản xuất, mở rộng thị trường.
Nếu trước thời kỳ đổi mới, trong 10 năm (1976 - 1985), tổng sản phẩm nội địa (GDP) của TP chỉ tăng bình quân 2,7%/năm, thì trong giai đoạn 1991-2010, TPHCM là một trong rất ít địa phương có tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân hai con số trong suốt 20 năm. Từ năm 2011 đến nay, TP cũng đạt mức tăng trưởng kinh tế xấp xỉ 10%/năm, gấp 1,6 lần mức bình quân chung của cả nước. GDP bình quân đầu người liên tục tăng nhanh, từ khoảng 700 USD giai đoạn 1995-1996, đến năm 2014 đã đạt mức 5.131 USD. Quy mô kinh tế, tiềm lực và sự đóng góp cho cả nước ngày càng lớn. Đến nay, Thành phố đã đóng góp khoảng 1/3 giá trị sản xuất công nghiệp, 1/5 kim ngạch xuất khẩu và 1/5 quy mô kinh tế của cả nước; đóng góp 30% trong tổng thu ngân sách quốc gia. Cơ cấu kinh tế chuyển dịch tích cực, theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Đến năm 2014, tỷ trọng dịch vụ đã chiếm 59,6% trong GDP, công nghiệp và xây dựng chiếm khoảng 39,4%, khu vực nông nghiệp chỉ còn 1% và đang phát triển theo hướng hình thành một nền nông nghiệp đô thị sinh thái.
Chất lượng công tác quy hoạch và quản lý quy hoạch, đầu tư kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội; phát triển đô thị bền vững có nhiều tiến bộ rõ rệt. Thành phố đã tập trung các nguồn lực triển khai thực hiện công tác quy hoạch đô thị, quy hoạch các khu công nghiệp, khu chế xuất, quy hoạch phát triển hệ thống hạ tầng giao thông, hình thành các trục xuyên tâm, trục Bắc - Nam, đường vành đai, các tuyến metro và đường trên cao. Các khu đô thị mới như khu đô thị Phú Mỹ Hưng, Khu đô thị mới Thủ Thiêm, khu đô thị Tây Bắc,… được đầu tư xây dựng, phát triển hiện đại, hài hòa với tổ chức không gian của thành phố, trở thành những đô thị kiểu mẫu.
Văn hoá, xã hội, giáo dục và đào tạo nguồn nhân lực có bước tiến tích cực; hoạt động nghiên cứu, ứng dụng khoa học - công nghệ đã góp phần thiết thực hơn vào quá trình phát triển. Cùng với thành quả phát triển kinh tế, đời sống của Nhân dân Thành phố không ngừng được cải thiện, an sinh xã hội luôn được đảm bảo, thu nhập từng bước được nâng lên. Đảng bộ Thành phố luôn dựa vào nhân dân để phát động các phong trào thi đua yêu nước, thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế - văn hóa - xã hội và chăm lo cải thiện, nâng cao đời sống nhân dân, nhất là người nghèo, người có công với cách mạng. Với truyền thống yêu nước, cách mạng, nhân ái và nghĩa tình, Thành phố đã phát huy sức mạnh, trí tuệ của nhân dân và chăm lo cải thiện đời sống cho nhân dân. Đến cuối năm 2014, số hộ nghèo có thu nhập từ 16 triệu đồng/người/năm trở xuống theo chuẩn nghèo của Thành phố chỉ còn khoảng 1,3%. Công tác chăm sóc sức khỏe được quan tâm. Sự nghiệp giáo dục và đào tạo có nhiều tiến bộ, Thành phố là địa phương đi đầu trong cả nước về phổ cập giáo dục, đã hoàn thành mục tiêu phổ cập giáo dục bậc trung học. Chương trình xây dựng nông thôn mới đạt được kết quả cao. Thành phố cũng là nơi khởi xướng và thực hiện tốt các phong trào xóa đói, giảm nghèo, đền ơn đáp nghĩa, phụng dưỡng Mẹ Việt Nam Anh hùng, xây dựng nhà tình nghĩa, nhà tình thương, chương trình bảo trợ bệnh nhân nghèo; chăm lo cho công nhân, người lao động,... mang lại kết quả thiết thực, có ý nghĩa nhân văn sâu sắc, thể hiện sinh động bản chất tốt đẹp của chế độ xã hội chủ nghĩa.
Một trong những thành tựu đồng thời cũng là đóng góp quan trọng, quý báu của Thành phố đối với công cuộc Đổi mới của đất nước là từ thực tiễn sinh động và sáng tạo của mình, Thành phố đã góp phần quan trọng, rất tích cực vào quá trình tìm tòi, nghiên cứu hoạch định, hình thành, phát triển đường lối đổi mới, chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước ta, nhất là về đổi mới mô hình tăng trưởng, cơ cấu lại nền kinh tế; đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước; hoàn thiện thể chế, phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.
Thành tựu to lớn về kinh tế - xã hội của Thành phố trong 40 năm qua, nhất là trong 30 năm đổi mới trước hết là sự nhận thức, quán triệt, tổ chức thực hiện và góp phần bổ sung, hoàn thiện chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước trong phát triển kinh tế bền vững, gắn tăng trưởng kinh tế với tiến bộ và công bằng xã hội, bảo vệ môi trường, phát triển văn hóa; gắn quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa với quá trình đô thị hóa, giữa quá trình đô thị hóa với xây dựng nông thôn mới.
Đồng thời, những thành tựu to lớn về phát triển kinh tế - xã hội trong chặng đường 30 năm đổi mới của Thành phố cũng bắt nguồn từ sự nhận thức sâu sắc, nhạy bén, đổi mới tư duy của Đảng bộ và nhân dân thành phố về mô hình kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; vai trò của Nhà nước và thị trường cũng như giải quyết tốt mối quan hệ giữa Nhà nước và thị trường. Chính việc thí điểm thực hiện nhiều chính sách đột phá của thành phố cho một nền kinh tế mở, các mô hình của kinh tế thị trường như phân cấp quản lý ngân sách, đầu tư,…đã tạo điều kiện thuận lợi để các chủ thể kinh doanh trong nền kinh tế thị trường phát huy năng lực, lợi thế, đồng thời đây cũng là một trong những cơ sở thực tiễn thuyết phục để Trung ương xây dựng các chủ trương và thể chế hóa thành các khung pháp lý quan trọng như Luật Doanh nghiệp, Luật Đầu tư áp dụng chung cho tất cả các thành phần kinh tế trong cả nước. Sự phát triển mạnh mẽ, đa dạng nhiều thành phần kinh tế trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh gắn liền và phản ánh quá trình đổi mới nền kinh tế của nước ta.
Từ thực tiễn 30 năm đổi mới tại TPHCM cho thấy, sự tồn tại và phát triển của một cơ cấu kinh tế đa thành phần là tất yếu khách quan của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Sản xuất hàng hóa, kinh tế nhiều thành phần và vận hành theo cơ chế thị trường là ba bộ phận không thể tách rời trong quá trình huy động các nguồn lực của đất nước vào mục tiêu công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Sự phát triển các thành phần kinh tế trên địa bàn TPHCM đã thể hiện sức sống mãnh liệt của các thành phần kinh tế dân doanh.
Có thể nói, sự đa dạng hóa sở hữu và thành phần kinh tế là động lực chính yếu thúc đẩy quá trình phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn TPHCM suốt 30 năm qua[1]. Điều đó đã minh chứng tầm nhìn trong chủ trương khuyến khích phát triển, đa dạng hóa các thành phần kinh tế, xem các thành phần kinh tế là bộ phận không thể tách rời trong cơ cấu kinh tế của nước ta, đồng thời thiết lập cơ chế và môi trường cạnh tranh bình đẳng giữa các thành phần kinh tế là hoàn toàn đúng đắn.
Trong những năm qua, mặc dù khu vực doanh nghiệp nhà nước của Thành phố thu hẹp dần về mặt tỷ trọng nhưng không làm giảm vai trò của Nhà nước trong việc định hướng sự phát triển kinh tế và bảo đảm an sinh xã hội. Đảng bộ, chính quyền thành phố đã tập trung vào cơ cấu lại, nâng cao hiệu quả của các doanh nghiệp nhà nước, phát triển các doanh nghiệp nhà nước công ích và xã hội hóa đầu tư trong lĩnh vực hạ tầng kinh tế - xã hội. Đây là chủ trương đúng đắn để củng cố và phát triển vai trò của Nhà nước và doanh nghiệp nhà nước trong kinh tế thị trường. Bên cạnh đó, các khu vực ngoài nhà nước kể cả đầu tư nước ngoài tăng liên tục và ngày càng có tỷ trọng lớn trong cơ cấu GDP và cơ cấu lao động.
TPHCM là một trong những địa phương trong cả nước có sự thu hút mạnh mẽ nguồn vốn đầu tư nước ngoài[2], nhưng trong cơ cấu kinh tế nguồn nội lực vẫn chiếm tỷ trọng chủ yếu về cơ cấu giá trị và cơ cấu lao động. Các thành phần kinh tế dân doanh khác (hộ sản xuất kinh doanh công nghiệp, thương mại, dịch vụ) vẫn đóng vai trò quan trọng trong cơ cấu nền kinh tế nhiều thành phần trên địa bàn thành phố. Đây là thành phần kinh tế hoạt động tương đối ổn định ngay cả trong thời kỳ nền kinh tế chịu tác động tiêu cực của khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế thế giới.
Thực tiễn sinh động của TPHCM đã cho thấy, để ổn định kinh tế vĩ mô không nhất thiết phải có nhiều doanh nghiệp nhà nước mà doanh nghiệp nhà nước phải hoạt động thật sự có hiệu quả và Nhà nước sử dụng đồng thời nhiều công cụ để điều tiết thị trường. Ví dụ điển hình nhất là trong giai đoạn 2010-2013, TPHCM đã sử dụng cơ chế bình ổn thị trường, cơ chế hỗ trợ tín dụng, các biện pháp tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp, tăng cường vào các cao điểm tiêu dùng, phát triển hệ thống bán lẻ với vai trò nòng cốt của doanh nghiệp nhà nước, kinh tế tập thể,… đã kiểm soát được tốc độ tăng giá trên địa bàn luôn thấp hơn tốc độ tăng giá trong nước, bằng 3/4 mức tăng CPI của cả nước. Đồng thời cũng cho thấy sự đa dạng hóa sở hữu và thực hiện quyền tự do kinh doanh của công dân chính là động lực để phát triển kinh tế - xã hội và thực hiện sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Từ bài học này, Thành phố cần tiếp tục quan tâm và có những giải pháp hữu hiệu để hỗ trợ các doanh nghiệp tư nhân, các doanh nghiệp nhỏ và vừa và khởi sự kinh doanh trên địa bàn Thành phố, coi đây là động lực năng động và sáng tạo quan trọng để phát triển kinh tế - xã hội của Thành phố.
Nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng bộ Thành phố là nhân tố hàng đầu đảm bảo thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ xây dựng, bảo vệ và phát triển Thành phố. Đảng bộ Thành phố đã luôn bám sát thực tế, từ thực tiễn tạo ra những giá trị mới làm cơ sở cho công cuộc đổi mới. Nhờ bám sát vào thực tiễn, Thành phố đã luôn tìm tòi, sáng tạo, tăng cường đồng thuận, phát huy cao độ vai trò làm chủ của nhân dân, mạnh dạn thể nghiệm nhiều cơ chế, chính sách mới để tháo gỡ khó khăn, thúc đẩy sản xuất, phát triển các loại thị trường, không ngừng cải thiện môi trường đầu tư, thu hút mạnh các nguồn lực để phát triển, đồng thời kiên trì thực hiện phương châm phát triển kinh tế bền vững, vì con người.
Trong giai đoạn tới, hai vấn đề chính đặt ra cho TPHCM, theo chúng tôi là: Về lĩnh vực kinh tế, các doanh nghiệp, nền tảng kinh tế còn thiếu tính cạnh tranh, đang đối diện với thách thức trong quá trình hội nhập khu vực và thế giới; Về lĩnh vực quản lý đô thị, thách thức lớn nhất là sự bất cập giữa trình độ phát triển kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội với tốc độ tăng trưởng kinh tế và yêu cầu cải thiện dân sinh.
Để có thể kiến nghị, đề xuất với Thành phố những chủ trương, giải pháp phát triển kinh tế - xã hội trong thời gian tới, cần phải có nghiên cứu một cách đầy đủ, có hệ thống và sâu rộng. Trong phạm vi Hội thảo này, chúng tôi xin gợi ý một vài vấn đề để Thành phố tham khảo, nghiên cứu:
Thứ nhất, tiếp tục quán triệt tinh thần, nội dung Nghị quyết 16-NQ/TW ngày 10/8/2012 của Bộ Chính trị về phương hướng phát triển của Thành phố Hồ Chí Minh đến năm 2020; tiếp tục thể chế hóa và tổ chức thực hiện Nghị quyết bằng những đề án, kế hoạch, chương trình cụ thể.
Thứ hai, về mô hình tăng trưởng, Thành phố cần hướng tới mô hình tăng trưởng dựa trên nâng cao năng suất lao động, chất lượng và sức cạnh tranh với những nội dung chủ yếu sau: (1) Phương thức thực hiện: kết hợp hợp lý giữa chiều rộng và chiều sâu, lấy tăng trưởng theo chiều sâu là hướng chủ đạo; (2) Chiến lược tăng trưởng: chuyển tăng trưởng từ chủ yếu dựa vào xuất khẩu và đầu tư sang phát triển đồng thời cả về đầu tư, xuất khẩu và tiêu dùng trong nước; (3) Động lực tăng trưởng: phải dựa trên năng suất lao động, khoa học - công nghệ và đổi mới sáng tạo. Đẩy mạnh nghiên cứu và triển khai (R&D) nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả, nâng cao giá trị gia tăng, tăng nhanh giá trị nội địa và tham gia có hiệu quả vào chuỗi giá trị toàn cầu; (4) Nguồn lực tăng trưởng: dựa trên cơ sở khai thác, phát huy nguồn nội lực đồng thời thu hút, sử dụng có hiệu quả các nguồn lực bên ngoài; (5) Mục tiêu tăng trưởng: cần hướng tới các mục tiêu dài hạn, tăng trưởng bền vững, hiệu quả và vì con người, giải quyết hài hòa giữa mục tiêu trước mắt và mục tiêu lâu dài, giữa tăng trưởng kinh tế với tiến bộ và công bằng xã hội, thân thiện với môi trường, nâng cao đời sống mọi mặt của nhân dân, vì con người và cho tất cả mọi người.
Thứ ba, về tái cơ cấu các ngành kinh tế:
- Thực hiện cơ cấu lại sản xuất công nghiệp theo hướng tăng hàm lượng khoa học - công nghệ và tỉ trọng giá trị nội địa. Tiếp tục tập trung phát triển 4 ngành công nghiệp có hàm lượng khoa học - công nghệ và giá trị gia tăng cao như cơ khí, điện tử - công nghệ thông tin, hóa dược - cao su, chế biến tinh lương thực, thực phẩm. Xây dựng các “cụm liên kết sản xuất”, tạo điều kiện phát triển công nghiệp hỗ trợ.
- Phát triển nông nghiệp đô thị hiện đại, hiệu quả, bền vững theo hướng nông nghiệp công nghệ cao, công nghệ sinh học, trung tâm sản xuất giống cây trồng, giống vật nuôi của khu vực, bảo vệ môi trường.
- Tập trung nâng cao tỷ trọng các ngành dịch vụ: thương mại quốc tế; tài chính, ngân hàng; dịch vụ cảng, kho bãi, hậu cần hàng hải và xuất, nhập khẩu; vận tải đa phương thức; du lịch. Phát triển Thành phố thành trung tâm dịch vụ thương mại quốc tế của cả nước và khu vực Đông Nam Á; tập trung phát triển các sản phẩm tài chính, định chế tài chính và thị trường tài chính…
Thứ tư, về phát triển kinh tế vùng, với vai trò đầu tàu, là cực tăng trưởng trọng yếu, Thành phố Hồ Chí Minh cần chủ động nghiên cứu, đề xuất Trung ương các cơ chế, chính sách thích hợp theo hướng đẩy mạnh phân cấp, tăng tính tự chủ cho Thành phố, nhất là về ngân sách để Thành phố thực sự trở thành đầu tàu, động lực kinh tế của khu vực và cả nước. Thành phố cũng cần chủ động phối hợp với các địa phương nghiên cứu, đề xuất các thể chế tăng cường phát triển kinh tế vùng và liên kết vùng; chú trọng phát triển giao thông thành phố theo quan điểm “thành phố mở”, gắn kết với các tỉnh trong Vùng kinh tế trọng điểm phía Nam, hỗ trợ phát triển đồng bộ. Tiếp tục phát huy tốt sự chủ động liên kết, hợp tác ngày càng có hiệu quả với các tỉnh, thành phố, đặc biệt phối hợp với các tỉnh trong xây dựng vùng nguyên liệu cho công nghiệp chế biến nông sản sạch, an toàn.
Thứ năm, để Thành phố đóng vai trò đầu tàu trong hội nhập quốc tế, cửa ngõ chính kết nối kinh tế Việt Nam với khu vực và thế giới, Thành phố cần tăng cường áp dụng các tiêu chuẩn quốc tế trong quản trị công, dịch vụ công và quản trị doanh nghiệp; đào tạo, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, đáp ứng đầy đủ yêu cầu của hội nhập quốc tế.
Năm 2015, TPHCM tròn 40 năm xây dựng, phát triển và hội nhập. Với niềm tin sâu sắc vào đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; với truyền thống năng động, sáng tạo, đoàn kết, vượt khó, chủ động nắm bắt thời cơ, vượt qua thách thức của Thành phố mang tên Bác, chúng ta hoàn toàn tin tưởng và cùng phấn đấu xây dựng TPHCM văn minh, hiện đại, nghĩa tình.
GS.TS. Vương Đình Huệ
-----------------------------------------------------------------------
[1] Đến nay trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh có 106 doanh nghiệp 100% vốn nhà nước trực thuộc Thành phố và 2 quỹ địa phương (Quỹ phát triển nhà ở thành phố và Quỹ Bảo lãnh tín dụng cho doanh nghiệp nhỏ và vừa); Tổng số doanh nghiệp đăng ký trên hệ thống (đã trừ giải thể) là 232.964 doanh nghiệp, trong đó lĩnh vực bán buôn, bán lẻ, sửa chữa ô tô, xe máy chiếm 39,7%, lĩnh vực công nghiệp chế biến, chế tạo chiếm 12,5%, lĩnh vực xây dựng chiếm 11%.
[2] Đến cuối năm 2014, có 429 dự án được cấp mới Giấy chứng nhận đầu tư với 2,84 tỷ USD; 135 dự án điều chỉnh tăng vốn với 378,5 triệu USD. Tính chung, tổng vốn đầu tư đăng ký cấp mới và điều chỉnh tăng vốn là 3,2 tỷ USD, tăng 91,6% so cùng kỳ. Đã thu hút đầu tư công nghệ cao từ Tập đoàn Sam sung là 1,4 tỷ USD.