Thắng lợi oanh liệt của cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968 đã mở ra bước ngoặt mới của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, là một cuộc "tập dượt chiến lược" để lại nhiều bài học kinh nghiệm quý báu đối với chiến dịch Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước. Thắng lợi đó là kết tinh của ý chí "Không có gì quý hơn độc lập, tự do"[1]; là kết quả của cuộc chiến đấu vô cùng anh dũng, mưu trí, sáng tạo, sự hy sinh oanh liệt của đồng bào, chiến sĩ hai miền Nam - Bắc, trong đó có những đóng góp quan trọng của lực lượng Công an nhân dân Việt Nam.
Thất bại trong chiến dịch mùa khô thứ nhất, từ giữa năm 1966, Mỹ tiếp tục đưa thêm quân đội viễn chinh vào chiến trường miền Nam và ném bom bắn phá miền Bắc ngày càng ác liệt. Trước hành động điên cuồng của địch, ngày 17-7-1966, Chủ tịch Hồ Chí Minh ra lời kêu gọi nhân dân cả nước quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ xâm lược. Giữa lúc cuộc chiến leo thang đến đỉnh cao nhất, Bộ Chính trị họp bàn về hướng tấn công chiến lược năm 1968 và sau đó Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ 14 thông qua chủ trương mở cuộc Tổng tiến công và nổi dậy đồng loạt Tết Mậu Thân nhằm giáng một đòn quyết định vào ý chí xâm lược của Mỹ.
Quán triệt Nghị quyết Hội nghị Bộ Chính trị tháng 12-1967 và Nghị quyết Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ 14 về "Động viên những nỗ lực lớn nhất của toàn Đảng, toàn quân, toàn dân ở cả hai miền, đưa cuộc chiến tranh cách mạng của ta lên bước phát triển cao nhất, dùng phương pháp tổng công kích và tổng khởi nghĩa để giành thắng lợi quyết định"[2]; Thường vụ Trung ương Cục miền Nam, Bộ Công an đã sớm đề ra các chủ trương, quyết định có tính chiến lược về công tác an ninh. Ngay từ ngày 15-12-1967, Thường vụ Trung ương Cục miền Nam ban hành Chỉ thị số 32/CT về nhiệm vụ, phương hướng công tác an ninh trong thời gian sắp tới, nêu rõ: "Phải hướng vào các đô thị, thị xã, thị trấn và các vùng yếu kết hợp với lực lượng vũ trang, chính trị của quần chúng để đẩy mạnh trừ gian diệt ác ôn, đánh rã bộ máy kìm kẹp, hạ uy thế địch, tạo thế cho phong trào cách mạng của quần chúng nổi dậy tiến lên tiêu diệt các cơ quan đầu não, các tổ chức công an, tình báo địch, các đảng phái phản động, đánh tan các cơ sở phản động của địch một cách triệt để, góp phần đánh sập chính quyền Sài Gòn từ Trung ương đến tận cơ sở, giành chính quyền về tay nhân dân; tích cực nắm vững tình hình địch, tích cực chuẩn bị lực lượng chuyên môn để triệt, để truy kích địch, bảo vệ chính quyền cách mạng sau này". Tiếp sau đó, ngày 14-1-1968, Hội nghị Công an toàn quốc lần thứ 22 đã nhận định năm 1968 có vị trí quan trọng đặc biệt đối với sự nghiệp chống Mỹ, cứu nước trên cả hai miền nước ta và xác định công tác an ninh tập trung thực hiện tốt ba nhiệm vụ cơ bản là: 1- Ra sức giữ vững an ninh miền Bắc nhằm phục vụ tốt công cuộc xây dựng kinh tế và sự nghiệp chống Mỹ, cứu nước ở miền Bắc và chi viện miền Nam; 2- Chi viện tốt cho công tác an ninh miền Nam, đảm bảo yêu cầu trước mắt, đồng thời đáp ứng kịp tình hình cách mạng khi có chuyển biến lớn; 3- Ra sức bồi dưỡng, đào tạo cán bộ, cải tiến công tác, cải tiến tổ chức và lề lối làm việc, tổng kết kinh nghiệm và xây dựng lý luận nghiệp vụ, nhằm bảo đảm thực hiện tốt hai nhiệm vụ trên.
Dưới sự chỉ đạo của Bộ Công an, Trung ương Cục miền Nam và cấp ủy đảng các cấp, lực lượng an ninh miền Nam đã huy động hơn 3.000 cán bộ, chiến sĩ an ninh thực hiện nhiệm vụ theo kế hoạch được phân công, kết hợp với lực lượng tại chỗ tiến công vào các cơ quan đầu não, bộ máy kìm kẹp an ninh, cảnh sát, hệ thống giao thông, sân bay, kho tàng, trại giam của địch trong các đô thị và lập nên những chiến công lớn. Trong cuộc chiến đấu quyết liệt, cam go, phức tạp đó, hơn 2.000 cán bộ, chiến sĩ an ninh và hàng trăm cơ sở của lực lượng an ninh đã hy sinh anh dũng, hàng trăm cán bộ, chiến sĩ bị địch bắt và giam giữ tù đày trong các nhà giam của địch. Vai trò và những đóng góp to lớn của lực lượng Công an nhân dân trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968 được thể hiện trên các nội dung chính sau:
Thứ nhất, lực lượng công an đã chủ động chuẩn bị toàn diện về mọi mặt, sẵn sàng cho cuộc Tổng tiến công và nổi dậy.
Ngày 19-12-1967, Bộ trưởng Trần Quốc Hoàn thành lập Phòng theo dõi tình hình miền Nam nhằm nghiên cứu góp ý kiến kịp thời các chủ trương, chính sách, biện pháp đấu tranh chống mọi hoạt động tình báo gián điệp, phá hoại của đế quốc Mỹ và tay sai, phục vụ cho tổng công kích, tổng khởi nghĩa đang đến gần. Cuối năm 1967, Bộ Công an đã triệu tập 776 cán bộ, mở 4 lớp học tại nơi sơ tán, bồi dưỡng mọi mặt chuẩn bị chi viện cho an ninh miền Nam; tháng 1-1968, tất cả cán bộ, chiến sĩ này cùng hàng trăm tấn vũ khí, tài liệu, phương tiện thông tin liên lạc được chi viện cho các chiến trường miền Nam. Công an nhân dân là một trong những lực lượng chi viện chiến trường miền Nam sớm nhất, đúng lúc, kịp thời, toàn diện về cán bộ, vũ khí, phương tiện kỹ thuật, hậu cần... góp phần quan trọng làm chuyển biến tương quan lực lượng, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ của cuộc Tổng tiến công.
Thiết thực hưởng ứng cuộc tiến công toàn diện của quân dân miền Nam, ở miền Bắc, lực lượng Công an nhân dân đẩy mạnh thi đua, đấu tranh làm thất bại chiến tranh gián điệp và chiến tranh tâm lý của địch, giữ gìn trật tự, an ninh để bảo vệ miền Bắc. Tại miền Nam, Ban an ninh tất cả các khu, phân khu, tỉnh thành đều có kế hoạch toàn diện về công tác bảo vệ, bố trí lực lượng tham gia các mũi tiến công vào các thành phố, thị xã, thị trấn, các vùng nông thôn địch còn tạm chiếm. Trong toàn miền đã xây dựng được thêm 117 cơ sở mới và 1.198 cơ sở bí mật trong các cơ quan tình báo, cảnh sát, đoàn bình định, ngụy quyền, đảng phái, tôn giáo, dân tộc. Mạng lưới giao liên được tăng cường, các tổ cơ yếu, điện đài, trinh sát kỹ thuật, thông tin liên lạc được hình thành phục vụ sự lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng và phục vụ công tác đánh địch.
Ở các vùng căn cứ giải phóng như Củ Chi (Sài Gòn - Gia Định), Tây Ninh, Long Xuyên, Châu Đốc, an ninh địa phương đã tham gia công tác vận động tân binh, bảo vệ hàng vạn dân công, hàng trăm tàu thuyền đưa đón cán bộ, bộ đội, vận chuyển vũ khí đạn dược, lương thực... từ căn cứ vào các thành phố, thị xã. Bộ phận kỹ thuật nghiệp vụ của Bộ tăng cường làm ra hàng nghìn giấy căn cước "Rồng xanh", giấy "miễn quân dịch", "sự vụ lệnh" giống như của địch để cấp cho cán bộ, chiến sĩ ta vào đô thị hoạt động.
Để đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ mới, Ban An ninh Trung ương Cục và Ban an ninh các địa phương đều kiện toàn lại tổ chức, cán bộ nhằm tăng cường cho các chiến trường chính và khu trọng điểm. An ninh khu trọng điểm Sài Gòn - Gia Định được tổ chức thành 6 phân khu. Giải thể Ban An ninh miền Đông Nam Bộ (T1), rút đội trinh sát bảo vệ chính trị và ban bảo vệ căn cứ 105 về thành lập đại đội an ninh vũ trang. Ngày 15-12-1967, Ban An ninh khu Sài Gòn - Gia Định còn thành lập đơn vị an ninh vũ trang với nhiệm vụ đánh vào mục tiêu Tổng nha Cảnh sát và Nha Cảnh sát đô thành. Lực lượng trinh sát vũ trang cũng được tăng cường, biên chế thành 2 đội làm nhiệm vụ tiêu diệt bọn tình báo đầu sỏ, cảnh sát ác ôn. Ngoài ra, Ban An ninh khu Sài Gòn - Gia Định còn cử một tổ tiền trạm xuống địa bàn để xây dựng căn cứ cho Bộ Tư lệnh Tiền phương.
Thứ hai, bám sát địa bàn, nắm chắc tình hình địch; tích cực thực hiện nhiệm vụ bảo vệ, dẫn đường, phối hợp với Quân giải phóng và nhân dân đẩy mạnh trừ gian, diệt ác, phá rã bộ máy kìm kẹp, đánh chiếm các cơ quan đầu não của địch, tạo thế cho quần chúng nổi dậy giành chính quyền.
Lực lượng An ninh miền Nam đã tập trung nắm các cơ quan, tổ chức, trụ sở công khai, bí mật của địch, các kho cất giấu tài liệu, các đảng phái phản động; nắm chắc danh sách, nhận dạng, lý lịch của số cầm đầu ác ôn trong ngụy quyền, số chỉ huy quân sự, tình báo, an ninh quân đội Mỹ - Sài Gòn, cảnh sát, số chiêu hồi bình định chiến tranh tâm lý, chỉ huy trong các trung tâm cải huấn... Những thông tin, tình hình này đã phục vụ đắc lực cho kế hoạch tổng tiến công của quân và dân ta vào đầu năm 1968.
Thực hiện chủ trương của Trung ương Đảng, đêm 30 rạng sáng 31-1-1968, các lực lượng vũ trang miền Nam đã mở một cuộc tổng tiến công trên toàn chiến trường, đánh thẳng vào các thành phố, thị xã, hàng trăm quận lỵ, căn cứ, kho tàng, sân bay, bến cảng, sở chỉ huy của địch. An ninh miền Nam đã huy động toàn bộ lực lượng cùng với các lực lượng vũ trang khác và quần chúng nhân dân thực hiện "hai chân", "ba mũi" giáp công xuyên suốt trong cả quá trình chiến tranh cách mạng ở miền Nam; tổ chức thành công lối đánh dũng mãnh, táo bạo, bất ngờ, đồng loạt, nhằm trúng các mục tiêu "yết hầu", "huyết mạch", "tim óc" của địch; trong đợt I, ta đã bắt, diệt 15.135 gián điệp, tình báo, trong đó có 1.359 tình báo, 1.766 cảnh sát, 632 bình định nông thôn, 492 ác ôn, 3.409 tên đầu sỏ; giải phóng hầu hết các nhà lao (trung tâm cải huấn) và trại giam, giải thoát hơn 6.000 cán bộ và đồng bào yêu nước; tham gia phá vỡ 4.200 ấp chiến lược, giải phóng thêm 1,4 triệu dân. Hệ thống ngụy quyền cùng bộ máy kìm kẹp của địch bị phá rã nặng nề; khối lượng lớn phương tiện chiến tranh của địch bị phá hủy.
Tại khu trọng điểm Sài Gòn - Gia Định, An ninh T4 đã huy động mọi lực lượng hoàn thành nhiệm vụ trừ gian diệt ác và những đối tượng đầu sỏ quan trọng, hỗ trợ phong trào quần chúng nổi dậy giành quyền làm chủ ở cơ sở. Đặc biệt, 12 cán bộ, chiến sĩ phân đội An ninh vũ trang thực hiện nhiệm vụ bảo vệ, dẫn đường đưa một bộ phận Bộ Tư lệnh Tiền phương II luồn sâu vào trung tâm thành phố, đã chiến đấu anh dũng, hy sinh đến người cuối cùng trên đường phố Quận 11 để tạo điều kiện cho lãnh đạo rút lui an toàn.
Tại Huế, trong đợt Tổng tiến công Xuân Mậu Thân 1968, lực lượng an ninh và bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương, dân quân du kích đồng loạt tiến công vào các mục tiêu trọng điểm và nhanh chóng chiếm phần lớn các vị trí trong thành phố, giải phóng hàng chục xã, hàng trăm thôn với hàng chục vạn dân và giữ thành phố trong 25 ngày đêm.
Tại các địa phương khác như: Tây Ninh, Biên Hòa, Bà Rịa, Bình Dương, Long An, Gò Công, Mỹ Tho, Bến Tre, Kiến Phong, Cần Thơ, Vĩnh Long... lực lượng an ninh các địa phương đã giữ vai trò nòng cốt trong công tác mở đường, nắm tình hình, cùng với các lực lượng vũ trang giải phóng, quần chúng nhân dân đồng loạt tiến công vào các trụ sở của địch, trừng trị ác ôn ngoan cố, tìm bắt tề điệp, cảnh sát, chiêu hồi bình định, phá thế kìm kẹp của địch. Các chiến sĩ an ninh đã phát động quần chúng bảo mật phòng gian, vận động nhân dân làm hầm hào phòng địch đánh phá, giáo dục gia đình có người theo địch trở về, xây dựng xã chiến đấu, kiên quyết giữ vững quyền làm chủ ở ấp, xã; nhanh chóng, kịp thời khai thác những tên địch bị bắt và những tên đầu hàng, đầu thú phục vụ kế hoạch tiến công và nổi dậy xóa bỏ bộ máy kìm kẹp của địch.
Thứ ba, bảo đảm thông tin liên lạc thông suốt, bí mật, an toàn, kịp thời truyền đạt những chỉ đạo, mật lệnh của Trung ương Đảng, Đảng đoàn, lãnh đạo Bộ Công an về cuộc Tổng tiến công và nổi dậy.
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhấn mạnh, thắng hay bại của cuộc chiến tranh một phần lớn do biết giữ bí mật hay không biết giữ bí mật quyết định. Trong bài "Giữ bí mật" đăng trên báo Sự thật, số 97, ngày 30-7-1948 với bút danh A.G, Người viết: "Ta biết giữ bí mật, thì bọn Việt gian mật thám khó mà hoạt động. Ta biết giữ bí mật, thì dù địch có trăm tai, ngàn mắt, cũng không dò được tin tức của ta. Vì vậy, biết giữ bí mật, tức là đã nắm chắc một phần thắng lợi trong tay ta". Quán triệt tư tưởng của Người, lực lượng Cơ yếu Công an miền Bắc và An ninh miền Nam ở nhiều địa bàn khác nhau, từ các căn cứ chiến đấu, vùng giải phóng đến tận sào huyệt của kẻ thù ở Sài Gòn, đã vượt qua muôn vàn khó khăn, thử thách, mưu trí, dũng cảm bảo vệ tài liệu mật mã, chuyển báo bí mật an toàn về Bộ Công an hàng nghìn nguồn tin tình báo có giá trị chiến lược, giúp Bộ Chính trị, Đảng đoàn và lãnh đạo Bộ Công an kịp thời đánh giá tình hình và đưa ra các chủ trương chỉ đạo sâu sát đối với cách mạng miền Nam. Tháng 12-1967, Cơ yếu An ninh Trung ương Cục đã kịp thời giải mã bức điện tuyệt mật về "Kế hoạch Mậu Thân (1968)" được chuyển từ miền Bắc vào qua đường Phnôm Pênh (Campuchia). Nội dung kế hoạch được đảm bảo tuyệt đối bí mật về ngày, giờ tấn công và nổi dậy của toàn quân và dân miền Nam. Cơ yếu Công an nhân dân ở hai miền Nam - Bắc đã mã dịch chuyển báo kịp thời, an toàn một tài liệu cực kỳ quan trọng của lãnh đạo Bộ Công an về một số vấn đề xung quanh việc quản lý các đô thị mới giải phóng cho An ninh Trung ương Cục chỉ đạo các đơn vị an ninh cơ sở miền Nam tổ chức thực hiện. Sau này, khi đánh giá vai trò và những đóng góp to lớn của công tác cơ yếu Công an nhân dân, đồng chí Lê Duẩn khẳng định: "Trong mấy chục năm qua, chúng ta đánh giặc, chúng ta biết được rằng: Những lúc quan trọng nhất, những vấn đề bí mật nhất của ta không bị lộ. Các đồng chí đã góp phần rất quan trọng vào việc giữ bí mật, vào sức mạnh chung để giành thắng lợi"[3].
Thứ tư, đẩy mạnh phong trào phòng gian bảo mật; bảo vệ tuyệt đối an toàn các cơ quan đầu não của cách mạng miền Nam, bảo vệ các đồng chí lãnh đạo, các Bộ Tư lệnh Tiền phương tham gia công tác chỉ đạo cuộc Tổng tiến công và nổi dậy ở địa phương.
Trước tình hình địch đánh phá ác liệt, để thực hiện mục tiêu bảo vệ an toàn tuyệt đối các cơ quan đầu não trong mọi tình huống, Ban An ninh Trung ương Cục đã hết sức chú trọng chỉ đạo, hướng dẫn công tác bảo vệ, nâng cao cảnh giác, phòng gian bảo mật; nhiều kế hoạch chống thám báo, trinh sát, do thám, biệt kích, gián điệp được vạch ra và triển khai thực hiện hiệu quả. Lực lượng an ninh đã đấu tranh làm thất bại nhiều hoạt động tình báo, gián điệp của địch; phối hợp với các lực lượng chức năng của quân đội, cơ quan các cấp rà soát làm trong sạch nội bộ, tuần tra, canh gác vũ trang đảm bảo giữ bí mật tuyệt đối về địa điểm đóng quân, trụ sở cơ quan Trung ương Cục miền Nam, các khu ủy, nơi cất giấu vũ khí, đạn dược, hầm nuôi giấu cán bộ trong khu vực nội đô; bảo vệ tuyệt đối an toàn các nhân sĩ, trí thức trong Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam.
Thứ năm, chủ động phục hồi lực lượng tại những vùng địch phản công chiếm giữ; kiên cường bám đất, bám dân, vừa khôi phục sinh hoạt bình thường của nhân dân vừa nhanh chóng bảo đảm trật tự trị an địa bàn.
Sau Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968, địch tập trung lực lượng phản kích rất quyết liệt, gây cho ta nhiều thiệt hại, trong đó có lực lượng an ninh. Nhiều cơ sở an ninh bị vỡ, có nơi hầu như "trắng tay", phải mất một thời gian dài mới khôi phục được. Đây là giai đoạn cực kỳ khó khăn của lực lượng an ninh miền Nam. Trong bối cảnh vô cùng phức tạp và ác liệt đó, để xây dựng và củng cổ tổ chức cơ sở an ninh đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ trong tình hình mới, ngoài các lực lượng vũ trang bám chặt địa bàn đánh địch với khẩu hiệu "Một tấc không đi, một ly không rời", ban lãnh đạo đặc khu Sài Gòn - Gia Định chỉ đạo phân tán nhỏ căn cứ và nới rộng bàn đạp ra các tỉnh xung quanh làm nơi đứng chân; xây dựng nhiều đầu mối giao liên an ninh đảm bảo sự chi viện bên ngoài vào đô thị, đồng thời đón nhận sự chi viện của an ninh miền Nam và Bộ Công an về cán bộ, vũ khí, tài chính... Cuối năm 1968, thực hiện chỉ đạo của cấp trên, Ban An ninh T4 chỉ đạo lực lượng trinh sát vũ trang chuyển hướng kịp thời; thông qua vận động giác ngộ quần chúng tham gia các phong trào công khai chống địch như phong trào công nhân, sinh viên, học sinh, phụ nữ để tuyển chọn vào lực lượng an ninh mật, điệp báo, tạo chỗ ăn, ở cho cán bộ, chiến sĩ an ninh...; thông qua xây dựng "lõm" chính trị trong nội đô để xây dựng lực lượng an ninh rộng khắp. Ban an ninh và một số cán bộ còn bám được địa bàn nội đô móc ráp lại cơ sở bị gián đoạn, hình thành mạng lưới điệp báo trong nội thành.
Cùng với đó, lực lượng an ninh chủ động nghiên cứu, đề xuất cấp ủy và nhanh chóng triển khai đồng bộ các biện pháp nhằm ngăn ngừa các thủ đoạn chia rẽ, lôi kéo, phá hoại của địch, bảo đảm trật tự trị an địa bàn; phối hợp cùng với các lực lượng khác khôi phục sinh hoạt bình thường của quần chúng nhân dân.
Qua ba đợt Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968, lực lượng Công an nhân dân mà trực tiếp là lực lượng An ninh miền Nam đã góp phần to lớn vào thắng lợi chung của quân và dân cả nước, giáng một đòn chí tử vào ý chí xâm lược của đế quốc Mỹ, đánh trúng, đánh thẳng vào các cơ quan đầu não của bộ máy chính quyền Sài Gòn, làm rung động dư luận quốc tế và chính giới Hoa Kỳ.
Kỷ niệm 50 năm Tổng tiến công và nổi dậy Mậu Thân 1968 (1968-2018) là dịp để toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta ôn lại truyền thống vẻ vang, những chiến công oanh liệt trong lịch sử đấu tranh cách mạng hào hùng của dân tộc. Chúng ta thành kính tôn vinh, bày tỏ lòng tri ân sâu sắc trước những cống hiến, hy sinh to lớn của quân, dân ta, các thế hệ cán bộ, chiến sĩ Công an nhân dân đã làm nên chiến công lịch sử trọng đại này.
Tiếp tục phát huy tinh thần Tổng tiến công và nổi dậy, dưới sự lãnh đạo của Đảng, Nhà nước, sự phối hợp, giúp đỡ của các lực lượng và sự đùm bọc, che chở, ủng hộ của nhân dân, lực lượng Công an nhân dân luôn nêu cao tinh thần đoàn kết, thường xuyên rèn luyện đạo đức cách mạng, hun đúc bản lĩnh chính trị vững vàng, trung thành tuyệt đối với Đảng, Tổ quốc và nhân dân, quyết tâm hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ nòng cốt trong bảo vệ an ninh quốc gia, giữ gìn trật tự, an toàn xã hội, đấu tranh phòng, chống tội phạm, mãi xứng đáng với sự tin cậy của Đảng, Nhà nước và nhân dân, góp phần thực hiện thắng lợi hai nhiệm vụ chiến lược xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
Thượng tướng, GS.TS. TÔ LÂM
Ủy viên Bộ Chính trị, Bộ trưởng Bộ Công an
________________________________
[1] Lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh được Đài Phát thanh tiếng nói Việt Nam truyền đi sáng ngày 17-7-1966, Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội 2011, t.15, tr.130.
[2] Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t.29, tr.50.
[3] Trích bài nói của đồng chí Lê Duẩn tại Hội nghị Cơ yếu toàn quốc, tháng 6-1978.