Chủ Nhật, ngày 3 tháng 7 năm 2022

Văn kiện Nghị quyết của đại hội đại biểu đảng bộ quận lần thứ VI . Báo cáo về sự lãnh đạo thực hiện nghị quyết đại hội quận đảng bộ lần thứ IV và phương hướng nhiệm vụ nhiệm kỳ V (1989-1990)

Mọi hoạt động của nhiệm kỳ qua diễn tiến trong bối cảnh có nhiều khó khăn gay gắt, có lúc dồn dập. Cuộc đấu tranh chuyển từ cơ chế hành chính quan liêu bao cấp sang hạch toán kinh doanh xã hội chủ nghĩa đang giằng co phức tạp. Hoạt động chung của xã hội, mà nhất là trên lĩnh vực kinh tế luôn nằm trong tình trạng căng thẳng, phải luôn đối phó. Cơ chế quản lý còn nhiều gò bó, giá cả không ngừng tăng lên; tiền mặt luôn thiếu, có lúc nghiêm trọng, điện và vật tư, nguyên liệu đã thiếu lại không ổn định, chính sách thuế còn nhiều bất hợp lý... làm cho hoạt động sản xuất kinh doanh thường bị ách tắc.

Trung ương và Thành phố cũng đã có nhiều chủ trương biện pháp để tháo gỡ bằng các chính sách khuyến khích phát triển hàng hóa trong các thành phần kinh tế, song lại chậm hướng dẫn tổ chức thực hiện và không đồng bộ. Quận chúng ta cũng đã cố gắng chủ động và vận dụng các chủ trương trên vào tình hình cụ thể của địa phương, các mặt hoạt động có nhiều chuyển biến tích cực và tạo được một số tiền đề tốt cho sự phát triển trong những năm tới. Song phải thẳng thắn nhận rằng các thành quả ấy chưa cao, chưa tương xứng với yêu cầu và tiềm năng của quận. Thu nhập thực tế của đông đảo cán bộ, công nhân viên, hưu trí và đối tượng hưởng chính sách có xu hướng ngày càng giảm sút. Tình hình trên đã có tác động không tốt đến tình hình an ninh trật tự và an toàn xã hội của quận.

Tình hình sẽ tiếp tục diễn biến phức tạp và còn kéo dài, do vậy yêu cầu Đại hội Quận Đảng bộ lần này với tinh thần đổi mới nói thẳng, nói thật, hết sức khách quan để nghiêm túc kiểm điểm đánh giá tình hình nhiệm kỳ qua, rút ra nguyên nhân và bài học của những thành công cũng như chưa thành công. Từ đó xác định phương hướng, mục tiêu phát triển tiếp tục đưa quận tiến lên đáp ứng đòi hỏi của cán bộ, đảng viên và nhân dân quận nhà, tương xứng với tiềm năng dồi dào của quận.

* * *


 

PHẦN THỨ NHẤT

TÌNH HÌNH THỰC HIỆN NGHỊ QUYẾT
ĐẠI HỘI QUẬN ĐẢNG BỘ LẦN THỨ VI

(TỪ THÁNG 10-1986 ĐẾN THÁNG 04-1989)

I- VỀ KINH TẾ VÀ ĐỜI SỐNG:

1. Tình hình sản xuất Công nghiệp – Tiểu thủ công nghiệp:

Trong bối cảnh chung nêu trên, Quận ủy và Ủy ban đã mạnh dạn đề ra các biện pháp cụ thể cùng với cơ sở nổ lựa khắc phục khó khăn và đã đạt được những kết quả đáng mừng. Toàn ngành công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp đã giữ được nhịp độ phát triển, có nhiều năng động phấn đấu đạt và vượt chỉ tiêu Thành phố  giao hàng năm. Song chưa đạt được chỉ tiêu do Nghị quyết Đại hội đề ra: giá trị tổng sản lượng năm 1987 đạt 94% (727/760 triệu đồng), năm 1988 đạt 97,8% (890/910 triệu đồng). Giá trị hàng xuất khẩu tuy vượt xa chỉ tiêu hàng năm nhưng tỷ trọng so toàn ngành không đạt được như Nghị quyết Đại hội (7,8/9%). Giá trị hàng hóa giao nộp chỉ chiếm 67% (Nghị quyết đề 85%) và thu hút lao động đạt thấp. Chưa tạo được mặt hàng tiêu biểu và ổn định.

Tình hình cụ thể ở các khu vực sản xuất như sau:

a) Sản xuất quốc doanh:

Khu vực sản xuất quốc doanh của quận trong 2 năm qua đã không ngừng tăng lên về quy mô và tỷ trọng nộp ngân sách. Tài sản cố định tăng từ 22,4 triệu đồng lên 605 triệu đồng. Thu hút lao động từ 926 người trên 1.237 người. Tỷ trọng nộp ngân sách từ 5,6% tăng lên 18,5% trong tổng thu ngân sách (năm 1988 tăng 22 lần so với năm 1986). Cơ sở vật chất và thị trường của nhiều xí nghiệp ngày càng mở rộng.

Từng xí nghiệp đã mạnh dạn ứng dụng khoa học kỹ thuật cải tiến qui trình công nghệ, tổ chức quản lý sản xuất tốt hơn, từng bước mở rộng cơ sở vật chất kỹ thuật và có quan tâm bảo đảm tăng thu nhập cho công nhân, từ đó năng suất lao động bình quân mỗi năm tăng nhanh hơn tốc độ tăng số lượng lao động (37%/16,6%).

Công tác hạch toán đúng và đủ, đảm bảo giá thành sản phẩm được thị trường chấp nhận và có lãi, được một số xí nghiệp chú trọng. Tỷ lệ tích lũy có tăng hơn (từ 9% lên 9,4%).

Xét trong toàn ngành công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp, khu vực quốc doanh có tốc độ phát triển nhanh nhất (58%) vượt xa chỉ tiêu Đại hội đề ra (35%) và nhanh hơn nhiều so với tốc độ tăng của tiểu thủ công nghiệp (9,8%). Tỷ trọng giá trị sản lượng của khu vực sản xuất quốc doanh trong tổng sản lượng toàn ngành tăng từ 15% lên 21%.

b) Khu vực sản xuất ngoài quốc doanh (tiểu thủ công nghiệp):

Tuy có đầu tư mở rộng hơn trước (vốn cố định 200 triệu lên 1 tỷ đồng) nhưng tốc độ phát triển bình quân hàng năm chỉ đạt 9,8% (Nghị quyết đề 12%). Từ khi có Nghị quyết 16/BCT, kinh tế tập thể được củng cố mở rộng và tăng nhanh (hơn các loại hình kinh tế khác ngoài quốc doanh) chiếm khoảng 75% giá trị tổng sản lượng toàn ngành. Kinh tế cá thể, tư nhân, kinh tế gia đình phát triển chậm (111 cơ sở với 400 lao động) chủ yếu và dịch vụ, sửa chữa, khoảng 1/3 có sản xuất thực sự nhưng không có mặt hàng độc đáo, truyền thống và có thể xuất khẩu.

Các ngành kinh tế kỹ thuật phát triển không đều. Ngành cơ khí phát triển khá ổn định (chủ yếu là cơ khí phục vụ nông nghiệp và chế biến). Tỷ trọng giá trị tổng sản lượng tăng từ 16,8% lên 20,5%. Tỷ trọng ngành dệt vẫn chiếm gần 50% giá trị tổng sản lượng, nhưng gần đây bị chựng lại. Tuy có cải tiến nới rộng máy gỗ, chuyển đổi mặt hàng, nhưng do chất lượng vải thua kém nên vẫn không cạnh tranh nổi với các xí nghiệp dệt Trung ương, Thành phố và hàng ngoại nhập. Riêng đề tài sản xuất máy dệt sắt tại quận đã được quan tâm chỉ đạo, đầu tư nhưng tiến độ thực hiện quá chậm, hiệu quả thấp. Chưa thực hiện được việc kép kín trong ngành dệt như Nghị quyết đề ra, do thiếu khâu hoàn tất định hình. Các ngành có tốc độ phát triển bình quân nhanh và cơ khí, điện tử, may, vật liệu xây dựng... Tuy cũng gặp nhiều khó khăn nhưng nhờ linh hoạt hơn và chủ động giải quyết vốn, tiền mặt, vật tư, tiêu thụ sản phẩm... nên các hợp tác xã đầu đàn của quận vẫn đứng vững. Nhìn chung tốc độ phát triển của khu vực sản xuất ngoài quốc doanh quá chậm (so với quốc doanh) và có tính tự phát nhiều hơn, khả năng và tiềm năng hiện có của nhân dân chưa huy động tốt vào sản xuất (về tay nghề, lao động, nhất là lao động làm hàng thủ công mỹ nghệ xuất khẩu, hiện chiếm 1-3 lao động công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp của quận).

Nguyên nhân của tình hình trên, ngoài khó khăn khách quan (chủ yếu là thuế, giá cả không ổn định... nên người có vốn không dám tổ chức sản xuất kinh doanh vì lỗ) còn do sự quan tâm chỉ đạo và tổ chức thực hiện thiếu tập trung của Ủy ban và các ngành chức năng.

2. Sản xuất Nông nghiệp:

a) Trồng trọt:

Phong trào hợp tác hóa nông nghiệp được giữ vững và từng bước được củng cố nâng lên theo mô hình nông – công – thương – dịch vụ. Các ngành nghề tiểu thủ công nghiệp đang được phát triển trong các hợp tác xã góp phần tăng thu nhập cho tập thể. Trong 5 hợp tác xã và một tập đoàn sản xuất hiện có, đã thu hút 42,3% số hộ, 26,6 nhân khẩu, 20,4% lao động trong nông nghiệp và 29% đất canh tác. Trong 2 năm đã tiếp tục đầu tư 14,6 triệu đồng  cho điện, nước trên cánh đồng rau chuyên canh. Thu nhập của xã viên, tập đoàn viên, được nâng lên (có nơi bằng 100kg gạo/người/tháng). Khi thực hiện chính sách đổi mới cơ chế quản lý kinh tế trong nông nghiệp, tình hình biến động đất đai không lớn, hầu hết các trường hợp khiếu nại đều được giải quyết thỏa đáng ngay trong nội bộ nông dân.

Qua thực tế canh tác, do không phù hợp với đất đai, khí hậu nên những cây hiệu quả thấp (gừng, nghệ, dừa, đậu phộng...) bị loại dần. Sự chỉ đạo chuyên môn, kỹ thuật của ngành nông nghiệp và phường lâu nay gần như thả nổi cho tập đoàn, hợp tác xã; thêm vào đó năng lực điều hành của Ban quản trị, Ban chủ nhiệm chậm được nâng lên, nên các đơn vị sản xuất không đủ sức sử dụng hết diện tích đất của tập đoàn, hợp tác xã quản lý, buộc phải cho bà con xã viên mượn để canh tác thêm.

Các yếu tố trên làm cho hệ số sử dụng đất giảm từ 4 lần xuống còn 3,5 lần/năm, năng suất cũng giảm từ 15,5 tấn/ha còn 14,6 tấn/ha, từ đó tổng sản lượng rau chỉ đạt 95% với Nghị quyết đề ra (28.500/30.000 tấn) giá trị tổng sản lượng bình quân hàng năm giảm 5,4% (Nghị quyết đề ra tăng 10%), chỉ có diện tích bông kiểng tăng 2 lần so với chỉ tiêu Đại hội đề ra (80/40ha).

b) Chăn nuôi:

Dù có quyết tâm tập trung đẩy mạnh phong trào chăn nuôi (Quận ủy có Nghị quyết về công tác chăn nuôi, thành lập xí nghiệp chăn nuôi với các trạm, trại heo, gà, xưởng chế biến thức ăn gia súc...), song do giá thịt heo chưa thỏa đáng, người chăn nuôi không có lãi nên phong trào chăn nuôi giảm nghiêm trọng, nhất là đàn heo gia đình. Tổng đàn lúc 01-10-1988 14.900 con đạt 50% chỉ tiêu Nghị quyết đề ra. Đàn heo nái giống của quận (sau nhiều năm đầu tư lai tạo đã thành công nay giảm xuống đáng lo ngại, chỉ còn 1900 con (đạt 30% kế hoạch) tỷ trọng so với tổng đàn từ 21% nay còn 12%.

Đàn bò tuy chỉ đạt 91% chỉ tiêu nhưng đàn bò cho sữa vượt 20% chỉ tiêu (hiện có 600 con), nhìn chung là chậm, một phần do diện tích trồng cỏ có thiếu, giá sữa thấp, lại bị tư nhân thao túng, Hiện xí nghiệp Chăn nuôi liên doanh với Công ty Sữa cà phê Trung ương đã thiết kế hệ thống sơ chế sữa nhằm thúc đẩy đàn bò sữa phát triển.

Đàn gia cầm có phát triển khá, có phần hỗ trợ của trại gà thuộc Xí nghiệp chăn nuôi (liên doanh với Xí nghiệp gia cầm trung ương); đàn cá chưa khẳng định hiệu quả nên chựng lại.

c) Hoạt động của nông trường Duyên Hải: tuy có được quan tâm đầu tư để khai thác, nhưng phương thức hoạt động vẫn còn lúng túng, năng lực tổ chức thực hiện còn hạn chế nên hiệu quả thấp.

2. Xây dựng cơ bản và giao thông vận tải:

a) Xây dựng cơ bản, nhà ở và công trình công cộng:

Các công trình xây dựng đều có tính đến yêu cầu và hiệu quả chặt chẽ hơn. Vốn đầu tư xây dựng có tập trung, có trọng điểm, đúng hướng. Bằng vốn tự có (là chính) các đơn vị đã tiến hành mở rộng và xây dựng mới nhiều công trình phúc lợi và cơ sở vật chất phục vụ sản xuất kinh doanh. Các nghĩa trang lớn trong quận đã được giải tỏa được đưa vào sử dụng kịp thời, hình thành từng bước các khu công nghiệp của quận (tại phường 12, 16, 17...) và nhiều cơ sở sản xuất của phường, Các cơ sở tập thể (kể cả một số đơn vị Trung ương Thành phố liên kết với quận) đã đầu tư vốn để xây dựng mở rộng cơ sở sản xuất kinh doanh (Sài Gòn ô tô, Sài Gòn điện tử, Xí nghiệp May Phương Đông (Trung ương), Xí nghiệp Da Giày (Thành phố), X.28, nhà xưởng của Hợp tác xã Đồng Tâm, Tân Lập Thành và nhiều cơ sở vật chất có giá trị khác.

Trong nhân dân việc tu sửa và xây dựng mới nhà cửa nhiều hơn so với năm trước, nhất là trên hai trục lộ chính Nguyễn Văn Nghi – Quang Trung và Nguyễn Kiệm – Nguyễn Oanh.

Tuy nhiên còn một số mặt tồn tại:

- Vẫn chưa huy động và khai thác tốt các nguồn vốn trong xây dựng các công trình phúc lợi xã hội theo phương châm “Nhà nước, tập thể và nhân dân cùng làm”. Vốn xây dựng các công trình phúc lợi xã hội chủ yếu vẫn từ ngân sách quận, do đó các công trình mới còn quá ít, chưa đáp ứng với nhu cầu của nhân dân.

- Xí nghiệp xây dựng và Sửa chữa Nhà tuy có được củng cố cả về nhân sự và phương thức hoạt động nhưng hiệu quả kinh doanh còn thấp, chất lượng công trình chưa cao.

- Công tác quản lý và phân phối nhà tuy có tiến bộ nhưng chưa chặt chẽ, còn một số trường hợp chưa thật công bằng và hợp lý. Chưa có quy hoạch xây dựng, kéo dài tình trạng xây dựng tùy tiện. Chưa kiên quyết xử lý các trường hợp chiếm dụng và xây dựng nhà trái phép.

- Tình trạng vệ sinh cống rãnh, thoát nước và chiếu sáng trên các trục lộ và ngõ hẻm vẫn chưa có nét tiến bộ đáng kể.

b) Giao thông vận tải:

Ngành giao thông vận tải có cố gắng phục vụ vận chuyển hàng hóa và hành khách, tổ chức sắp xếp quản lý lại lực lượng vận tải thủy bộ, duy tu bảo dưỡng cầu đường, cùng Thành phố mở rộng nâng cấp 1,5km đường Quang Trung. Nhiều đường hẻm, ao tù trong khu phố lao động được san lấp sạch sẽ với sự góp sức của nhân dân. Đã bước đầu khai thác thế mạnh đầu mối giao lưu của bến sông An Lộc tạo thuận lợi cho việc giao lưu hàng hóa, vật tư từ các nơi khác về quận và ngược lại được thuận lợi, song cầu cảng đã xuống cấp nặng, không được tu bổ.

Nhiều công trình cầu đường do Thành phố quản lý cũng đang xuống cấp chưa được sửa chữa nên thường gây trở ngại cho sự đi lại của nhân dân. Còn nhiều đường hẻm vào các khu lao động bị hư hỏng lầy lội... chưa được duy tu bảo dưỡng do chưa thực hiện tốt phương châm “Nhà nước và nhân dân cùng làm”

3. Tình hình phân phối lưu thông và chăm lo đời sống:

Dù Trung ương và Thành phố đã có nhiều chủ trương, chính sách khắc phục hậu quả sau đợt tổng điều chỉnh giá-lương-tiền (09-1985) nhưng tình hình chung vẫn còn xấu hơn: giá cả không ngừng tăng lên, vốn đã thiếu lại càng thiếu (không kể tiền mặt nhiều lúc rất căng thẳng), thuế thu nhiều tầng bậc, giảm chức năng đòn bẩy khuyến khích phát triển sản xuất kinh doanh, mức sống thực tế ngày càng giảm.

a) Hoạt động nội thương:

Trước bối cảnh chung, hơn hai năm quan thương nghiệp xã hội chủ nghĩa của quận có nhiều cố gắng và từng bước đổi mới phương thức hoạt động. Từng công ty có năng động xoay xở giải quyết khó khăn về vốn, tiền mặt và nguồn hàng bằng nhiều cách, tăng cường liên doanh  liên kết với các địa phương bạn để khơi nguồn hàng về cho quận, có chú trọng việc tạo thêm chân hàng tại địa phương (tuy chưa nhiều) và cung ứng vật tư cho sản xuất (chủ yếu là sợi cho ngành dệt), từng bước củng cố tổ chức mở rộng mạng lưới cửa hàng phục vụ.

Trung tâm thương nghiệp – Dịch vụ Ngã Năm tuy chưa đạt yêu cầu về quy mô nhưng bước đầu đã làm thay đổi bộ mặt của thương nghiệp xã hội chủ nghĩa tại khu đầu mối giao lưu trung tâm quận.

Doanh số hoạt động của các Công ty Nội thương bình quân hàng năm giảm 9,4% (năm 1988 Thương nghiệp Hợp tác xã giảm 63% so với năm 1986), thương nghiệp hợp tác xã phường do thiếu vốn, bị cơ chế ràng buộc, sự quan tâm của cấp ủy, Ủy ban phường chưa đúng mức nên sa sút, xảy ra nhiều vụ kinh doanh sai nguyên tắc quản lý; các mặt hàng thiết yếu đều giảm, tác dụng và hiệu quả của thương nghiệp hợp tác xã phường ngày càng giảm sút.

Tuy nhiên, thương nghiệp xã hội chủ nghĩa vẫn là nguồn đóng góp quan trọng cho ngân sách quận (chiếm tỷ trọng 86%, năm 1988 còn 73%). Song do phải trả lãi cho ngân hàng, lãi vốn vay ngoài nhiều, phí vận chuyển cũng cao, tỷ lệ lãi gộp quá lớn, làm cho giá thành hàng hóa của thương nghiệp xã hội chủ nghĩa cao hơn giá thị trường, do đó hàng hóa bán chậm, vòng vốn quy chậm. Hoạt động của thương nghiệp xã hội chủ nghĩa đang ở xu hướng giảm sút thể hiện trên 3 yếu tố: vốn bị hao mòn dần, quỹ hàng hóa giảm và không ổn định: khó mua, khó bán, lợi nhuận giảm.

Nguyên nhân chính của tình hình trên là do:

Tốc độ mất giá của đồng tiền và sự tăng giá của vàng rất nhanh đưa đến tình trạng “lời giả, lỗ thật”. Trong lợi nhuận có một phần vốn, vốn bị thu hẹp, không bù đắp kịp.

Ở một số đơn vị, năng lực kinh doanh yếu tố và nội bộ lủng củng... ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh.

Thương nghiệp xã hội chủ nghĩa chưa gắn nhiều với sản xuất tại quận, có phần do đầu tư cho sản xuất thì vòng quay chậm, hiệu quả thấp. Hàng hóa mua của sản xuất tại địa phương từ 13,5% giảm còn 3,8% trong doanh số (không thực hiện được như Nghị quyết đề ra là phải mua từ 60-80% hàng nông sản và 80-90% hàng tiểu thủ công nghiệp sản xuất tại quận). Thương nghiệp xã hội chủ nghĩa còn nặng kinh doanh đơn thuần và chạy theo lợi nhuận, chưa thể hiện đầy đủ chức năng phục vụ sản xuất và đời sống của địa phương, biện pháp để quản lý giá cả thực hiện không thường xuyên.

b) Hoạt động cung ứng hàng xuất khẩu và nhập khẩu:

Hoạt động cung ứng hàng xuất khẩu trong nhiệm kỳ qua gặp nhiều khó khăn, nguồn hàng đại bộ phận là nông, hải sản phải mua ở các nơi, tỷ giá tăng, giá xuất lại giảm; nguồn hàng xuất tại quận chủ yếu là thủ công mỹ nghệ như: thảm đay, thảm xơ dừa, chiếu cói, sơn mài, mành trúc... nhưng không nhiều và chủ yếu là xuất qua thị trường xã hội chủ nghĩa. Song do nhiều nguyên nhân từ Trung ương và Thành phố; nguồn hàng đối lưu cho cơ sở không kịp thời nên không kích thích người làm hàng xuất khẩu. Quận hiện có 30 cơ sở với 4.500 lao động (chiếm 39% lao động toàn ngành tiểu thủ công nghiệp) đang trong tình trạng sản xuất ì ạch thị trường tư bản chủ nghĩa nhưng mới là bước đầu.

Tình hình trên cho thấy nguồn hàng xuất khẩu của quận chưa nhiều và chưa ổn định, còn lệ thuộc nhiều ở các tỉnh; nguồn hàng xuất tại chỗ không đáng kể. Nguyên nhân chủ yếu là do chưa tập trung đầu tư chiều sâu (trang thiết bị mới, kỹ thuật tiên tiến, cả trình độ và quản lý mới), nặng các vụ buôn chuyến có doanh số lớn, lợi nhuận cao, chưa làm được vai trò thúc đẩy, tạo điều kiện cho phát triển kinh tế và đời sống tại quận. Giá trị hàng xuất hàng năm có tăng, song quá ít (năm 1987 là 5,4 triệu USD/R vượt 400 ngàn USD/R và năm 1988 là 5,9 USD/R, gần đạt chỉ tiêu Đại hội đề ra) trong đó nguồn hàng tại chỗ chỉ chiếm 1,4% (đạt quá thấp so với chỉ tiêu Nghị quyết đề ra từ 20-25%). Nguồn hàng nhập đúng hướng, chủ yếu phục vụ cho sản xuất, nhập cho tiêu dùng chỉ chiếm 30%.

Hoạt động kiều hối chưa được quan tâm đúng mức, trong 2 năm 1987-1988 chỉ thực hiện được 66 ngàn USD, bình quân 11 USD-hộ có thân nhân ở nước ngoài, quả là quá ít.

c) Hoạt động tài chính, thuế, ngân hàng:

Các ngành chức năng đều có cải thiện, có nhiều tiến bộ trong quá trình phục vụ sản xuất kinh doanh góp phần tăng thu ngân sách. Trung tâm tín dụng và Cửa hàng Kinh doanh Vàng bạc quận đã phát huy tác dụng và hỗ trợ vốn, tiền mặt cho nhu cầu sản xuất – kinh doanh.

Tuy nhiên, vẫn chưa đáp ứng kịp yêu cầu vốn và tiền mặt, chưa có biện pháp tích cực và ngăn chặn có hiệu quả tình trạng “ lời giả, lỗ thật” trong sản xuất, kinh doanh đang là phổ biến. Ngân hàng không kiểm soát được quá trình lưu thông tiền tệ. Công tác thu thuế tuy đạt kế hoạch, song thiếu linh hoạt, thiếu vận động, thiết phục và thiếu vận dụng phù hợp tình hình thực tế nên có ảnh hưởng nhất định đến hoạt động sản xuất kinh doanh của quận.

d) Công tác cải tạo, quản lý thị trường:

Đã góp phần sắp xếp lại trật tự phân phối lưu thông, đấu tranh và ngăn chặn hàng gian, hàng giả và buôn bán lòng vòng.

Tuy nhiên, do các chủ trương, chính sách và quan điểm về công tác cải tạo công thương nghiệp chưa rõ ràng và thiếu nhất quán, do đó từng lúc, từng nơi thực hiện một cách lúng túng và không đồng bộ, còn nhiều sơ hở trong quản lý, bị tư thương lợi dụng. Mặt khác gây tâm lý “sợ” không dám mạnh dạn bỏ vốn ra sản xuất kinh doanh.

e) Về chăm lo đời sống:

Song song với việc giải quyết việc làm cho trên 13 ngàn lao động, các cơ sở và các đoàn thể quần chúng đều rất quan tâm vận động giúp cho những hộ gia đình nghèo, quá khó khăn về nhà ở.

Trong khu vực sản xuất – kinh doanh, nhiều đơn vị đã đảm bảo mức thu nhập bình quân cho mỗi cán bộ công nhân viên trên 100kg gạo/tháng. Riêng khu vực hành chính sự nghiệp đơn thuần, tuy đã có điều tiết thêm từ quỹ phúc lợi của khu vực kinh tế nhưng cũng mới trợ cấp thêm mỗi người khoảng 2kg gạo/người/tháng như Nghị quyết đề ra). Đa số các xí nghiệp đời sống của các đơn vị hoạt động kém hiệu quả. Tổng thu nhập bình quân chỉ 50 kg gạo/người/tháng. Riêng ngành giáo dục từ đầu năm học 88-89 đảm bảo mức thu nhập tương đương với 80kg/người/tháng, đã tạo được sự an tâm phần nào cho giáo viên.

Mức sống thực tế của các đối tượng chính sách tiếp tục giảm sút. Các biện pháp giải quyết còn mang tính chấp vá không vững chắc. Mức chênh lệnh thu nhập giữa khu vực hành chính sự nghiệp và khu vực sản xuất kinh doanh ngày càng lớn.

II- TÌNH HÌNH VĂN HÓA XÃ HỘI:

Hoạt động văn hóa văn nghệ và thông tin tuyên truyền từ quận đến cơ sở có chuyển biến khá, đáp ứng một phần nhu cầu văn hóa của nhân dân lao động. Việc thực hiện Nghị quyết về công tác văn hóa thông tin của Quận ủy thông qua các Nghị quyết liên tịch giữa ngành văn hóa thông tin với các ngành, các đoàn thể đã góp phần đáng kể trong công cuộc xây dựng con người mới với lối sống trung thực, biết tôn trọng lẽ phải, pháp luật, yêu quý lao động, sống văn minh và có tình người. Vận dụng linh hoạt phương thức liên doanh trong xây dựng cơ sở vật chất nên các cơ sở văn hóa được mở rộng, Trung tâm Văn hóa Thể thao quận hoạt động tương đối khá, tạo được không khí mới.

Chính quyền và nhân dân đã có những cố gắng lớn trong năm lo sự nghiệp giáo dục thế hệ trẻ. Ngành giáo dục có bước phấn đấu khá trước tình hình chung. Có nhiều cố gắng giữ vững chất lượng dạy và học. Việc dạy chữ gắn liền với dạy nghề và dạy người được phát huy. Sự kết hợp giữa nhà trường và gia đình với sinh hoạt Đoàn, Đội có nhiều tiến bộ và đạt được những kết quả ban đầu.

Công tác chăm lo sức khỏe nhân dân có nhiều cố gắng. Phong trào 5 dứt điểm được đẩy mạnh, tình hình dịch bệnh có giảm và được ngăn chặn kịp thời, hạ thấp tỷ lệ tử vong. Mạng lưới y tế từ quận đến cơ sở từng bước được sắp xếp và củng cố lại. Công tác khám điều trị được dân tín nhiệm hơn. Việc chăm sóc bảo vệ bà mẹ và trẻ em có chú trọng. Hệ thống cửa hàng thuốc (bán lẻ) mở đều ở các khu vực.

Phong trào rèn luyện thân thể phát triển khá, nhất là khối trường học và lứa tuổi thanh thiếu niên một số bộ môn thể thao thi đấu cấp Thành phố đạt được thành tích cao.

Tình hình phân bố, giải quyết việc làm cho người lao động có chuyển biến tốt hơn. Các chính sách xã hội được thực hiện khá trong mức độ có được của quận. Trong nhân dân phong trào “ lá lành đùm lá rách” được phát triển sâu rộng.

Tuy nhiên, trên lĩnh vực văn hóa xã hội tồn những tồn tại sau:

Việc quản lý chỉ đạo hoạt động văn hóa nghệ thuật chưa chặt chẽ, chưa toàn diện, còn mang tính bao cấp. Văn hóa cơ sở vẫn là khâu yếu kém, 3 môi trường giáo dục chưa được chỉ đạo phối hợp chặt chẽ hướng vào mục đích đào tạo thế hệ trẻ, chất lượng đạo đức của học sinh giảm sút. Các cấp ủy cơ sở chưa thực sự quan tâm phối hợp với ngành để chỉ đạo hoạt động của nhà trẻ, mẫu giáo, còn khoán trắng cho ngành.

Vệ sinh môi trường chưa được bảo đảm, nhiều khu dân cư còn ẩm thấp, mất vệ sinh, nếp vệ sinh hàng tuần không duy trì tốt. Cơ sở vật chất và năng lực chuyên môn ở tuyến y tế phường và khu vực còn yếu, chưa tương xứng với yêu cầu và nhiệm vụ. Công tác quản lý, xử lý bệnh xã hội chưa thật căn cơ. Việc sản xuất các loại thuốc thông thường để phục vụ yêu cầu tại chỗ chưa nhiều. Nhành y tế tuy đã có bước sắp xếp lại (hình thành Trung tâm sức khỏe và thành lập Đảng ủy) nhưng hoạt động chưa vào nề nếp thống nhất. Nguyên nhân có phần do phần do phân định trách nhiệm và lề lối làm việc, song chủ yếu vẫn là chưa tạo được sự đoàn kết nội bộ. Phong trào trồng và sử dụng cây thuốc dân tộc không được ngành quan tâm.

Hoạt động thể dục thể thao chưa thành phong trào quần chúng còn mang tính thời vụ, nhiều mặt còn yếu. Chưa phát huy và vận dụng hết điều kiện cơ sở hiện có. Lãnh đạo ngành còn yếu.

Việc giải quyết lao động tuy có cố gắng nhưng chưa chủ động và thiếu phối hợp, hiện còn hàng nghìn lao động chưa có việc làm ổn định, trong đó hàng trăm anh em hoàn thành nghĩa vụ quân sự trở về. Dư luận các tiêu cực trong tuyển và phân bố lao động vẫn còn. Giáo dục cải hóa nạn nhân xã hội chưa được quan tâm đầy đủ. Trường Giáo dục Lao động Duyên Hải vẫn còn trong tình trạng khó khăn, lúng túng chưa có phương hướng phát triển.

Tuy từng cơ sở đều có quan tâm xoay xở nhưng việc chăm lo thêm (ngoài chế độ, chính sách) cho các đối tượng chính sách chưa nhiều.

Nhìn chung tình hình văn hóa xã hội của quận có những nét khởi sắc đi lên theo hướng đổi mới. Song còn chậm, sự tham gia góp công, góp sức của nhân dân chưa được vận động triệt để, tính bao cấp còn khá nặng. Nơi nào, việc gì làm tốt phương châm “dân bàn, dân tham gia và dân có lợi” thì giải quyết nhanh, có kết quả.

III- CÔNG TÁC NỘI CHÍNH:

Đảng bộ, chính quyền và nhân dân đã không ngừng chăm lo sự nghiệp bảo vệ an ninh chính trị, củng cố quốc phòng và tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa. Các phong trào hành động cách mạng “bảo vệ an ninh Tổ quốc, xây dựng quốc phòng toàn dân, sống và làm việc theo hiến pháp, pháp luật...” đã mang lại nhiều kết quả tốt.

Tình hình an ninh chính trị được giữ vững, trật tự an toàn xã hội có bước chuyển biến nhất định, (tuy chưa căn cơ) từng bước làm chuyển hóa và xây dựng các khu khố an toàn. Kết hợp nhiệm vụ với công tác vận động quần chúng, giáo dục, thuyết phục, khống chế đã triệt phá nhiều băng nhóm hình sự, hạn chế một mức tình trạng thất thoát tài sản xã hội chủ nghĩa, mất mát tài sản công nhân, ngăn chặn một phần tội phạm hình sự, kinh tế và tệ nạn xã hội.

Công tác giáo dục quốc phòng có chú ý chiều sâu, đã trang bị trên 5.000 thanh niên, học sinh, những kiến thức quân sự phổ thông và bồi dưỡng kiến thức quân sự cần thiết cho cán bộ chủ chốt cơ sở. Luật nghĩa vụ quân sự được tuyên truyền giáo dục trong nhân dân. Hàng năm công tác tuyển quân đều đạt chỉ tiêu. Các cấp ủy quan tâm xây dựng lực lượng và nâng cao tinh thần sẵn sàng chiến đấu. Diễn tập động viên “KHĐV-81” hàng năm đều đạt khá.

Với phương châm “Nhà nước và nhân dân cùng làm, trên dưới cùng chăm lo” đã giải quyết việc làm trên 300 quân nhân phục viên, xuất ngũ. Xây dựng 21 căn nhà tình nghĩa cho thương binh nặng và gia đình liệt sĩ neo đơn. Nhiều đoàn thăm viếng tặng quà chiến sĩ đang làm nhiệm vụ quốc tế, biên giới và hải đảo.

Chất lượng chính trị và nghiệp vụ của cán bộ chiến sĩ lực lượng vũ trang từng bước có được nâng lên.

Công tác pháp chế đã góp phần đáng kể trong việc giữ gìn kỷ cương pháp luật, lập lại trật tự kinh tế xã hội, nâng cao hiệu quả quản lý Nhà nước, bảo vệ lợi ích chính đáng của nhân dân lao động.

Các cấp ủy đã tăng cường lãnh đạo công tác nội chính, tuy nhiên đối chiếu với yêu cầu nhiệm vụ thì vẫn còn nhiều điểm yếu. Các đoàn thể quần chúng chưa nhận thức đầy đủ trách nhiệm của mình trước phong trào giữ gìn an ninh, trật tự xã hội, còn giao khoán cho ngành Công an.

Chưa phát động được phong trào quần chúng chủ động chống lại một cách có hiệu quả các tin đồn gây xáo trộn về kinh tế và tư tưởng. Công tác bảo vệ chính trị nội bộ chưa được từng đơn vị chăm lo, còn lỏng lẻo, thiếu cảnh giác để xảy ra một số vụ thất thoát tài sản. Tình hình trật tự an toàn xã hội chưa có chuyển biến cơ bản, một số vụ phạm pháp hình sự tuy có giảm nhưng tính chất nghiêm trọng hơn, đặc biệt có lúc trọng án tăng.

Các cấp ủy cơ sở chỉ đạo xây dựng nền quốc phòng toàn dân ở cơ sở còn nhiều lúng túng. Việc giáo dục luật nghĩa vụ quân sự trong thanh niên, nhân dân chưa được cấp ủy Đảng quan tâm thường xuyên. Chất lượng hoạt động quân sự phường còn yếu, đời sống cán bộ chiến sĩ có nhiều khó khăn. Công tác hậu phương quân đội còn đơn điệu, thiếu sự phối hợp.

Việc tuyên truyền giáo dục, phổ biến pháp luật chưa có bề rộng vẫn chiều sâu. Công tác thanh tra, kiểm sát, nhất là đối với các cơ quan hành pháp, các cơ sở kinh tế chưa được tiến hành thường xuyên. Nhiều quyết định không được chấp hành nghiêm túc, nhiều bản án có hiệu lực chưa được thi hành nhưng vẫn không bị xử lý thỏa đáng. Giải quyết thư tố cáo, khiếu nại còn chậm, thường kéo dài. Những người tố cáo sai sự thật chưa được xử lý nghiêm túc.

VI- CÔNG TÁC XÂY DỰNG LỰC LƯỢNG:

1. Công tác vận động quần chúng:

Công tác vận động quần chúng đã có những tiến bộ. Nội dung, hình thức và phương thức hoạt động có chuyển biến, bám sát yêu cầu thực tế của quần chúng hơn. Các tổ chức quần chúng đều đã chú trọng nâng cao chất lượng hoạt động nhất là ở cơ sở. Nhận thức chính trị của quần chúng tiếp tục được phát triển theo hướng đổi mới, tích cực phát huy quyền dân chủ tham gia hành động cách mạng qua phong trào góp ý xây dựng Đảng và chính quyền, mua công trái, vì tuyến đầu Tổ quốc, Thủy điện Trị An...

Tuy nhiên công tác vận động quần chúng vẫn chưa thoát khỏi tình trạng lúng túng, bị động.

- Công tác vận động quần chúng chưa được cán bộ, đảng viên nhận thức đúng, còn xem nhẹ. Các cấp ủy Đảng, chính quyền cơ sở chưa quan tâm đúng mức đến công tác vận động quần chúng, chưa coi đó là chìa khóa của mọi phong trào hành động.

- Hoạt động của mặt trận và các đoàn thể còn nặng về hành chính, phương thức và nội dung hoạt động vẫn còn nghèo nàn, ít gắn với quyền lợi và nhu cầu của đoàn viên, hội viên nên thiếu sức thu hút quần chúng. Các tổ chức đoàn thể ở cơ sở và quận chưa được củng cố đủ mạnh theo yêu cầu.

- Công tác tập hợp và tổ chức quần chúng nhất là thanh niên và khu vực phường và đường phố rất yếu, do chưa có hình thức tập hợp phù hợp.

+ Nguyên nhân của tình hình trên, trước hết do tình hình kinh tế xã hội chung cả nước đang tiếp tục sa sút, những biểu hiện tiêu cực chưa được ngăn chặn... đã tác động mạnh đến các tầng lớp quần chúng, nên công tác vận động quần chúng thêm khó khăn. Song về chủ quan cần thấy rõ các cấp ủy thiếu các biện pháp cụ thể (hình thức tập hợp, nội dung sinh hoạt...) và sự chỉ đạo thống nhất, tập trung thực hiện Nghị quyết về công tác dân vận. Thiếu quan tâm củng cố tăng cường cán bộ có năng lực và nghiệp vụ cho các đoàn thể.

Cán bộ dân vận thiếu và yếu, trình độ, năng lực chưa tập hợp và tổ chức chưa ngang tầm với nhiệm vụ, chưa có chính sách khuyến khích cán bộ dân vận ở cơ sở.

2. Sự lãnh đạo của Quận ủy đối với công tác chính quyền:

Ngay sau Đại hội, Quận ủy đã chú trọng chỉ đạo cuộc bầu cử Hội đồng Nhân dân, Ủy ban Nhân dân quận, phường khóa V nhằm nâng lên chất lượng bộ máy quản lý Nhà nước. Đối với các cơ quan hành chính cấp quận cũng đã được kiện toàn, sắp xếp lại theo mô hình mới (gọn hơn, biên chế ít hơn...). Hoạt động của Ủy ban Nhân dân quận và phường có tiến bộ, các đại biểu có tổ chức tiếp xúc cử tri, tiếp nhận và phản ảnh tâm tư nguyện vọng của cử tri đến các cơ quan liên quan. Việc giám sát kiểm tra chính quyền trong việc thực hiện các Nghị quyết, chủ trương của Đảng đều đặn, thường xuyên (qua giao ban, hội ý trực tiếp...) đảm bảo tính thống nhất lãnh đạo của Quận ủy.

Mối quan hệ chính quyền với Ủy ban mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể có gắn chặt và phối hợp thực hiện có kết quả trên nhiều lĩnh vực. Tuy nhiên bộ máy chính quyền hiện nay tuy đã tinh giảm nhưng hiệu lực chưa cao, chưa phát huy tốt vai trò chức năng của các ngành tham mưu và hoạt động chưa thật đồng bộ. Việc phân công phân cấp thực hiện chưa triệt để nhằm phát huy hết tiềm năng của cơ sở, các ngành chức năng thiếu hướng dẫn, kiểm tra gây ra tình trạng phân tán. Phần lớn các phường hiện nay chưa thực hiện được là cấp có kế hoạch và ngân sách như Nghị quyết 30/TU và 123/UBND thành phố.

3. Công tác xây dựng Đảng:

Quán triệt Nghị quyết Đại hội VI về việc tập trung nâng cao sức chiến đấu của Đảng ngang tầm với nhiệm vụ chính trị. 2 năm qua công tác xây dựng Đảng của Đảng bộ được tập trung trên 3 mặt:

+ Công tác chính trị tư tưởng:

Được tăng cường và tiến hành theo chiều hướng đổi mới tư duy, phong cách, nâng cao năng lực và phẩm chất cho cán bộ đảng viên, khắc phục được phần nào yếu điểm xem nhẹ công tác tư tưởng. Hầu hết các chi, đảng bộ cơ sở đều thực hiện dân chủ và công khai hóa các hoạt động nên bước đầu có tác dụng tốt góp phần đẩy mạnh cuộc đấu tranh chống tiêu cực có kết quả hơn, các vụ việc sai trái cũ và mới được giải quyết công khai, có tình và có lý và kiên quyết hơn nên được đông đảo cán bộ đảng viên và quần chúng đồng tình ủng hộ. Tâm tư cán bộ, đảng viên có thoải mái hơn, tư tưởng cục bộ, cá nhân chủ nghĩa, dao động... từng bước được ngăn chặn và khắc phục. Thường xuyên tổ chức nghiên cứu quán triệt các Nghị quyết, chỉ đạo của cấp trên. Quận ủy có chú trọng công tác bồi dưỡng nâng cao nhận thức của đảng viên cán bộ và quần chúng về lý luận chính trị và tình hình thời sự. Mở 8 lớp sơ cấp cho 425 học viên, 3 tuổi trao đổi bồi dưỡng cấp ủy mới cho 64 đ/c, hoàn chỉnh 1 lớp tại chức lý luận chính trị trung cấp cho gần 200 cán bộ chủ chốt trong quận, ngoài ra còn cử 47 đ/c đi học dài hạn (tập trung, tại chức) ở các trường Đảng Trung ương và Thành phố và 1 lớp đại học kinh tế tại chức do quận tổ chức gồm 200 học viên.

Tuy nhiên, công tác chính trị tư tưởng còn nhiều thiếu sót, đáng chú ý các mặt sau:

- Công tác chính trị tư tưởng chưa được xem là của toàn Đảng bộ, của từng Đảng viên mà còn coi là của cơ quan Tuyên huấn.

- Các cấp ủy cơ sở chưa gắn chặt nội dung giáo dục, rèn luyện hằng ngày, thường xuyên trong tuyên truyền phổ biến sâu rộng các chủ trương chính sách về kinh tế – xã hội. Do đó một bộ phận cán bộ, đảng viên không nắm bắt kịp những thay đổi mới, bị lạc hậu tiến bộ chung, có tư tưởng bi quan, giảm sút ý chí chiến đấu.

Cấp ủy các đơn vị kinh tế chưa quan tâm đúng mức đến công tác chính trị tư tưởng. Hoạt động tư tưởng chưa gắn với hoạt động kinh tế, không ít cơ sở buông lơi công tác tư tưởng.

- Thông tin hai chiều chưa tốt. Các thông tin, dư luận sai lệch chưa kịp thời đấu tranh công khai và uốn nắn, hướng dẫn; công tác tuyên truyền phổ biến còn xuôi chiều, sao chép, chưa vận dụng sáng tạo, phù hợp với tình hình địa phương, đơn vị. Nhiều Nghị quyết, chủ trương của Đảng, Nhà nước còn dừng lại ở cấp lãnh đạo, chưa phổ biến sâu đến cán bộ nhân dân. Đội ngũ làm công tác tư tưởng thiếu và yếu.

+ Công tác tổ chức cán bộ:

Công tác cán bộ có tập trung và có bước đổi mới. Thực hiện công khai hóa dân chủ hóa, trong việc đánh giá, bố trí sử dụng cán bộ, giữ được sự nhất trí trên, dưới tạo điều kiện thuận lợi cho bản thân cán bộ được bố trí. Mạnh dạn đề bạt sử dụng cán bộ trẻ, có năng lực kể cả ngoài Đảng, có chú ý tăng cường cán bộ cho phường, các đơn vị sản xuất kinh doanh. Công tác tổ chức bộ máy có nhiều cố gắng, sắp xếp lại bộ máy có gọn hơn, biên chế ít hơn, bước đầu phát huy được tác dụng. Đã thành lập thêm một chi bộ, 2 chi bộ nâng lên thành đảng bộ. Số chi bộ, đảng bộ vững mạnh cấp quận có tăng lên. Đảng bộ Phường 1 được công nhận là đơn vị vững mạnh xuất sắc cấp Thành phố (1985-1986). Đợt kiểm tra chất lượng đảng viên vừa qua có 51,36% đảng viên loại tốt; loại khá 39,22%, loại yếu 0,718%, loại xem xét 0,64%.

Trong nhiệm kỳ qua phát hiện được 182/220 đảng viên viên mới, đạt 82,7% chỉ tiêu (tính đến hết quý 1-1989). Bồi dưỡng về Đảng và Điều lệ Đảng cho 222 đối tượng Đảng.

Tuy nhiên, nhìn lại nhiệm kỳ qua công tác tổ chức và cán bộ còn những tồn tại lớn: chưa lên được quy hoạch cán bộ toàn quận, việc quản lý, nhận xét, đánh giá cán bộ tuy có cố gắng đổi mới nhưng chưa vào nề nếp, trình độ và năng lực của nhiều cán bộ chưa theo kịp yêu cầu nhiệm vụ; ở các trọng điểm mũi nhọn chưa bố trí được cán bộ tương xứng, nhiều khi bố trí cán bộ còn gượng ép, bị động, chắp vá, dẫn đến hoạt động không đồng bộ nên hiệu quả thấp, chưa tiêu chuẩn hóa từng loại cán bộ và thiếu quy hoạch nên việc chăm lo chính sách đào tạo bồi dưỡng sắp xếp cán bộ thường lúng túng. Chất lượng sinh hoạt chi bộ chưa cao, bàn nhiều về công tác chính quyền, nhẹ về công tác Đảng.

+ Công tác kiểm tra:

Các chi, đảng bộ có nhiều cố gắng trong công tác giữ gìn kỷ luật của Đảng, đã ngăn ngừa  và hạn chế đảng viên sai phạm. Các cơ sở Đảng đều có tổ chức phân công Đảng viên làm công tác kiểm tra và được tập huấn nghiệp vụ. Trong 2 năm (tính đến quý 1-1989) có 66 đảng viên sai phạm bị xử lý kỷ luật (16 khiển trách, 22 cảnh cáo, 8 cách chức, 1 lưu đảng, 15 khai trừ, 4 xóa tên). Quận ủy nhận 85 đơn tố cáo đảng viên và đã giải quyết 68 đơn, trong đó có 9 trường hợp xử lý kỷ luật và 59 trường hợp được giải tỏa, miễn xử.

Mặt yếu của công tác kiểm tra đảng là chưa đi đúng vào chức năng nhiệm vụ chủ yếu là kiểm tra các chi, đảng bộ và đảng viên thực hiện Điều lệ Đảng để chủ động phòng ngừa, còn bị động chạy theo các đơn tố giác, nhiều cơ sở còn buông lỏng việc xây dựng 4 nề nếp, chưa có biện pháp tích cực đẩy mạnh đấu tranh xây dựng nội bộ, nêu cao tự phê bình và phê bình để ngăn ngừa đảng viên vi phạm kỷ luật. Việc xử lý kỷ luật nhìn chung còn chậm, một số vụ kéo dài thời gian và mức xử lý kỷ luật chưa thỏa đáng gây thêm phức tạp. Đội ngũ làm công tác kiểm tra hoạt động chưa mạnh, năng lực chưa đáp ứng với yêu cầu nhiệm vụ.

V- ĐÁNH GIÁ CHUNG:

Tiếp tục phát huy các mặt mạnh sẵn có và quyết tâm khắc phục các mặt còn non yếu, 2 năm qua Quận Đảng bộ đã làm thêm được nhiều việc, đạt được nhiều kết quả trên lĩnh vực. Tình hình chung có chuyển biến nâng lên, tạo thêm một số tiền đề cho sự phát triển tới. Đó là những thành quả lớn của Đảng bộ.

Trước những khó khăn gay gắt ở nhiều mặt, cán bộ, đảng viên và nhân dân quận lại biểu hiện tinh thần cách mạng qua việc hoàn thành vượt mức kế hoạch Thành phố giao, từ cơ sở đã có dấu hiệu chuyển biến mạnh sang phong cách làm ăn mới năng động hơn, có trách nhiệm hơn trước nhân dân. Phong trào dân chủ hóa và công khai hóa có xu hướng phát triển tốt từ nội bộ đến quần chúng rộng rãi nhằm tiến công mạnh mẽ vào tiêu cực, ủng hộ cái mới phù hợp với xu thế chuyển mạnh từ quan liêu bao cấp sang hạch toán kinh doanh xã hội chủ nghĩa.

Nội bộ Đảng bộ giữ được đoàn kết. Đội ngũ đảng viên có bước trưởng thành, tư duy và phong cách làm việc mới ngày càng được xác định. Bộ mặt kinh tế – xã hội của quận đã bắt đầu có những biến đổi phù hợp với cơ cấu kinh tế và quy hoạch tổng thể của quận, tạo được một số cơ sở vật chất, quan điểm và phong cách làm ăn có thoáng hơn, có cải tiến, bước đầu đem lại những kết quả tốt.

Có được một số thành quả đó, là do:

1. Đảng bộ đã kế thừa và vận dụng những kinh nghiệm quý báu của những nhiệm kỳ trước và của đơn vị bạn đã phát huy những ưu điểm vốn có, không ngừng siết chặt khối đoàn kết thống nhất từ Ban Chấp hành Quận Đảng bộ đến các chi, đảng bộ cơ sở.

2. Bộ máy tổ chức được sắp xếp gọn hơn, định rõ chức năng nhiệm vụ từng đơn vị, bước đầu phân định rõ chức năng quản lý hành chính Nhà nước với chức năng quản lý sản xuất kinh doanh, quyền chủ động của cơ sở có được mở rộng. Đội ngũ cán bộ dần dần được củng cố, trẻ hơn, năng động hơn.

3. Cải tiến phong cách lãnh đạo, điều hành bằng quy chế giảm bớt được tình trạng khoán trắng hoặc giẫm chân nhau giữa Đảng với chính quyền. Biết đề cao tự phê bình và phê bình ngăn ngừa sai phạm ngay từ cơ sở. Tư tưởng và phong cách hoạt động của đông đảo cán bộ đảng viên được đổi mới, linh hoạt hơn nhất là các cơ sở, mở ra được nhiều khả năng mới.

Tuy nhiên, hiện nay đảng bộ quận vẫn đang còn những mặt yếu kém:

1. Sự phát triển các mặt nói chung còn chậm chưa tương xứng với tiềm năng hiện có. Do chưa phát huy tốt năng lực và thế mạnh tổng hợp trên địa bàn quận. Có phần do cơ chế khó khăn chung, nhưng có phần do công tác Đảng, công tác nội bộ chưa đáp ứng yêu cầu.Chưa giải thoát tâm tư do dự, thủ thế. Nội bộ có nhiều cơ sở chưa thật sự đoàn kết, Quận ủy và Thường trực Ủy ban Nhân dân quận phải mất khá nhiều thời gian, công sức để giải quyết, ảnh hưởng nhiều mặt đến hoạt động của đơn vị cũng như từng cá nhân.

2. Tuy đã qua nhiều đợt sinh hoạt chính trị, quán triệt Nghị quyết của Trung ương và Thành ủy nhưng nhận thức tư tưởng chuyển biến chưa đáp ứng với yêu cầu đổi mới, tư tưởng bao cấp vẫn còn nặng thiếu mạnh và sáng tạo.

3. Công tác tổ chức và cán bộ bộc lộ nhiều nhược điểm, chưa kiến tạo được bộ máy và đội ngũ cán bộ phù hợp với yêu cầu đổi mới và có hiệu suất công tác cao. Cơ quan tổ chức nắm và hiểu cán bộ chưa sâu, chưa căn cơ do khi nhận xét, bố trí chưa đúng yêu cầu, có khi sử dụng sai. Đảng bộ vẫn thiếu cán bộ cốt cán, nhất là ở cơ sở có trọng điểm kinh tế.

4. Năng lực tổ chức thực hiện Nghị quyết, chủ trương, chính sách của đảng bộ và cơ sở còn nhiều yếu kém. Thiếu sơ tổng kết rút kinh nghiệm để kịp thời ngăn ngừa khắc phục thiếu sót và nhanh chống nhân rộng các gương tốt, những cung cách hoạt động có hiệu quả.


 

PHẦN THỨ HAI

MỤC TIÊU VÀ NHIỆM VỤ CỦA ĐẢNG BỘ
TRONG NHỮNG NĂM 1989-1990

Quán triệt kịp thời các Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI, Nghị quyết Đại hội Đảng bộ Thành phố lần thứ IV, các chủ trương, chính sách đã có, trong thời gian tới Trung ương và Thành phố sẽ tiếp tục có những chỉ đạo mới nữa, chúng ta cần nhanh chóng vận động các chủ trương, chính sách “mở” đó vào hoạt động thực tế của quận. Cơ cấu kinh tế của quận vẫn là công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp – nông nghiệp – thương nghiệp (cả nội thương và ngoại thương) và dịch vụ.

Trong 2 năm (1989-1990) toàn Đảng bộ phát huy các thành quả đã đạt được, mạnh dạn đổi mới tư duy và phong cách hơn nữa, kiên trì thực hiện các mục tiêu sau: “xây dựng khối đoàn kết thống nhất, phát huy tiềm năng của quận, nhất là quỹ đất đai, để phát triển sản xuất hàng hóa, đẩy mạnh kinh doanh và dịch vụ xã hội chủ nghĩa, đẩy mạnh xuất nhập khẩu nhằm chăm lo đời sống vật chất và tinh thần của cán bộ công nhân viên và nhân dân, thông qua thực tiễn phong trào không ngừng xây dựng tập thể Đảng bộ vững mạnh”.

Các mục tiêu trên được cụ thể trong những nhiệm vụ chủ yếu sau đây:

I- TẬP TRUNG SỨC PHÁT TRIỂN KINH TẾ HÀNG HÓA:

Dưới nhiều hình thức sở hữu phù hợp, khuyến khích và động viên tất cả các cơ sở và nhân dân huy động mọi tiềm năng về vốn, mặt bằng, kỹ thuật, lao động, kinh nghiệm tổ chức và quản lý... vào sản xuất; mở rộng liên doanh, liên kết với các nơi (kể cả với nước ngoài) nhằm mở rộng sản xuất tại quận. Cố gắng xây dựng hàng tiêu biểu, chủ lực của quận.

1. Công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp:

Tiếp tục phát triển những ngành có thế mạnh của quận và cơ khí dệt, đồng thời tập trung đẩy ngành chế biến thực phẩm và thủ công mỹ nghệ xuất khẩu.

NHỮNG CHỦ TIÊU CHỦ YẾU:

Giá trị tổng sản lượng bình quân mỗi năm tăng 15% so với năm trước, trong đó khu vực sản xuất quốc doanh tăng 22% và ngoài quốc doanh tăng 12%. Giá trị hàng xuất khẩu tăng 30%. Từng năm năng dần tỷ lệ tích lũy cho ngân sách từ sản xuất công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp đến năm 1990 đạt 45% (hiện nay mới khoảng 30%).

Năm 1989:

- Giá trị tổng sản lượng chung: 1 tỷ đồng, trong đó sản xuất quốc doanh 230 triệu đồng và sản xuất ngoài quốc doanh 770 triệu đồng.

- Giá trị hàng xuất khẩu: 100 triệu đồng

Năm 1990:

- Giá trị tổng sản lượng chung: 1,160 tỷ đồng; trong đó: Sản xuất quốc doanh 280 triệu đồng (tỷ trọng 24%), sản xuất ngoài quốc doanh 880 triệu đồng (tỷ trọng 76%).

- Giá trị hàng xuất khẩu: 120 triệu đồng (tỷ trọng 10%).

BIỆN PHÁP CHỦ YẾU:

a) Đồi với khu vực quốc doanh và hợp doanh, xí nghiệp 54:

+ Tiếp tục thực hiện các Nghị quyết của Trung ương và Thành ủy về tăng quyền chủ động đầy đủ về các mặt cho cơ sở. Giám đốc là người chịu trách nhiệm toàn bộ về mọi hoạt động của xí nghiệp không ngừng phát triển, làm tròn các nghĩa vụ đối với Nhà nước và năng cao đời sống công nhân.

+ Rà soát lại các mặt hoạt động của các xí nghiệp yếu kém để có phương án củng cố, kể cả việc chuyển đổi hình thức sở hữu (nếu cần)... để hoạt động xí nghiệp ngày càng có hiệu quả thực sự. Từng bước mở rộng hình thức các xí nghiệp quốc doanh các cổ phần.

+ Ngoài vốn ngân sách cấp, khuyến khích xí nghiệp huy động vốn từ nhiều vốn khác: kiều hối, hợp doanh, liên doanh (từng khâu, từng bộ phận), vay (kể cả vay ngoại tệ mạnh)... Tuy nhiên phải đảm bảo tự hoàn trả vốn vay, giữ và tăng vốn, đồng thời có lãi.

+ Mở rộng liên doanh, liên kết với các đơn vị trú đóng, các đơn vị ngoài quận, cả với Việt Kiều, tư nhân hoặc công ty nước ngoài để cải tiến trang thiết bị, đầu tư khoa học kỹ thuật, nâng năng suất, chất lượng sản phẩm cao hơn, tạo thêm cơ sở sản xuất mới, mặt hàng mới đủ sức cạnh tranh với hàng hóa thị trường. Phải thận trọng chọn lựa phương án, nhất là việc sử dụng quỹ đất đai một cách hợp lý, có hiệu quả nhất, phù hợp với quy hoạch tổng thể của quận. Trước mắt, chuẩn bị ngay phương án tham gia tổ chức sản xuất trong khu căn cứ 26 cũ (do Sở Công nghiệp chủ trì).

+ Các công ty kinh doanh cần tổ chức nhiều xí nghiệp thuộc (hoặc xưởng, trạm...) tạo chân hàng ổn định.

+ Nghiên cứu tổ chức quản lý ngành pháo, đồng thời đề nghị TP cho quận được thành lập xí nghiệp sản xuất pháo nhằm đáp ứng nhu cầu tiêu dùng và xuất khẩu.

+ Củng cố Phòng công nghiệp- tiểu thủ công nghiệp đủ sức thực hiện chức năng quản lý hành chính Nhà nước đối với ngành trên địa bàn quận, nhất là giúp đỡ, tạo điều kiện cho các đơn vị ngoài quốc doanh không ngừng mở rộng sản xuất. Cần nghiên cứu hình thức tổ chức mới đối với ngành dệt để có hiệu quả hơn.

+ Bồi dưỡng nâng chất lượng hoạt động của cấp ủy ở các đơn vị sản xuất để làm tốt chức năng “ bảo đảm”, bố trí đảng viên hợp lý, nhất là ở các khâu chủ yếu: lãnh đạo chặt chẽ hoạt động của các đoàn thể nhằm phát huy tốt hơn nữa quyền làm chủ tập thể của công nhân viên chức, coi đó là động lực mạnh mẽ phát triển xí nghiệp, đồng thời không hạn chế quyền chủ động của giám đốc. Hàng quý Thường trực Quận ủy cùng Ban tổ chức Quận ủy cần giao ban với các Bí thư chi bộ xí nghiệp, qua đó vừa nâng trách nhiệm công tác Đảng ở xí nghiệp vừa kịp thời chỉ đạo công tác Đảng trong cơ sở sản xuất. Quan tâm đào tạo, bồi dưỡng cán bộ quản lý, cán bộ nghiệp vụ đáp ứng yêu cầu mới: “Biết làm ăn có hiệu quả”.

b) Đối với khu vực sản xuất ngoài quốc doanh:

+ Đây là khu vực quan trọng nhất cần được tập trung chỉ đạo theo tinh thần Nghị quyết 16/BCT và kịp thời tháo gỡ các vướng mắc trong quyền hạn của địa phương. Giao cho Công ty dịch vụ sản xuất Tiểu thủ công nghiệp (GODISACO) có nhiệm vụ trực tiếp tác động thúc đẩy sự phát triển của khu vực sản xuất ngoài quốc doanh.

+ Giúp đỡ các mặt để giữ vững hoạt động của ngành cơ khí công nghiệp, từng bước hợp tác các tổ chức kinh tế nước ngoài để làm hàng xuất khẩu. Đồng thời coi trọng phát triển cơ khí phục vụ tiêu dùng.

+ Ngoài các chính sách đòn bẩy kinh tế, cần nghiên cứu các hình thức tổ chức mới phù hợp hơn (trong điều kiện hiện nay) cho ngành dệt phát triển. Nhanh chóng đổi mới các mẫu mã mặt hàng và trang thiết bị để nâng chất lượng mặt hàng vải phù hợp thị trường.

+ Phải hết coi trọng ngành thủ công mỹ nghệ xuất khẩu, là ngành chiếm số đông lao động của quận. Các công ty, trước hết là Công ty cung ứng hàng xuất khẩu cần quan tâm hỗ trợ đầu tư chiều sâu (trang thiết bị mới, kỹ thuật tiên tiến, cán bộ giỏi...) cho cơ sở và tìm thị trường xuất có hiệu quả nhằm khuyến khích ngành này phát triển. Công việc này vừa có tính kinh tế, vừa có tính xã hội vì sử dụng được mặt bằng và lao động phụ trong rộng rãi quần chúng nhân dân.

+ Có chính sách ưu đãi đối với các cơ sở mới thành lập và mặt hàng mới độc đáo; động viên những hộ có thân nhân ở nước ngoài gởi tiền, vật tư, nguyên liệu tham gia sản xuất; thu hút mạnh mẽ những người có tay nghề, kỹ thuật cao vào tham gia tổ chức sản xuất tại quận.

2. Thúc đẩy phát triển sản xuất nông nghiệp:

Đẩy mạnh vướng thâm canh, nâng năng suất và chất lượng cây rau và cây bông kiểng. Từng bước tổ chức xuất khẩu bông kiểng và rau. Trước hết kết hợp với dịch vụ du lịch, cố gắng mở vườn hoa cây kiểng phục vụ khách du lịch. Phấn đấu đạt chỉ tiêu sản lượng 30.000 tấn rau/năm, tăng bình quân 5%.

Giữ và nâng dần đàn heo, bò công nghiệp. Chú trọng hơn nữa khu chế biến nguồn sữa bò, tạo điều kiện cho đàn bò sữa phát triển. Xí nghiệp chăn nuôi của quận phải vươn lên giữ vai trò chủ đạo ngành chăn nuôi, cung ứng giống và thức ăn gia súc phục vụ cho phong trào chăn nuôi gia đình.

Phấn đấu đạt sản lượng heo tăng 25% mỗi năm, đến 1-4-1990 đàn heo đạt 18.000 con. Đàn bò tăng bình quân 10% năm, năm 89 có 3.000 con và 1990 có 3.500 con, trong đó có 1.000 bò con sữa. Đàn Gà công nghiệp: Năm 1989 có 65.000 con và 1990 có 70.000 con.

3. Về xây dựng cơ bản:

Sớm có quy hoạch xây dựng cơ bản phù hợp với quy hoạch tổng thể đến năm 2.000 của quận. Một trong những trọng điểm sắp tới của quận là sử dụng tiềm năng đất đai và mục đích kinh tế - xã hội. Thông qua các mối liên doanh, nhận đầu tư của bạn hình thành các khu sản xuất công nghiệp tiêu dùng tương đối hoàn chỉnh có hiệu quả nhất, đảm bảo tính dâu dài, hiện đại về kỹ thuật, làm ra sản phẩm có chất lượng cao, có khả năng xuất khẩu, đồng thời đảm bảo về môi trường môi sinh.

Huy động vốn từ các nguồn, cố gắng dứt điểm các công trình: Cải tạo lại khu chợ Gò Vấp và 2 dãy phố cạnh chợ, xây dựng lại chợ Thông Tây Hội. Khu thương nghiệp dịch vụ Ngã Năm, hoàn thành các công trình đang dở dang, xây dựng thêm một số cơ sở văn hóa – xã hội để đáp ứng nhu cầu giải trí của nhân dân.

Khuyến khích nhân dân và các đơn vị tự sửa sang lại nhà cho khang trang, nhất là 2 trục hộ chính của quận. Song nhất thiết phải theo quy hoạch, đúng các quy định về xây dựng cơ bản.

Sắp xếp và bố trí lại các trụ sở cơ quan hành chính của quận và phường cho hợp lý, ưu tiên phục vụ cho sản xuất, kinh doanh. Song phải đảm bảo bộ mặt và điều kiện làm việc.

Đẩy mạnh việc kinh doanh nhà. Cho phép các tập thể và cả tư nhân đấu thầu xây dựng, kinh doanh nhà theo các phương án phát triển nhà của quận. Xử lý nghiêm các trường hợp xây dựng trái phép, vi phạm các quy định.

- Về giao thông, bưu điện:

Tranh thủ nguồn vốn Thành phố tiếp tục mở rộng đường Quang Trung đến cầu Chợ Cầu (2,5km) và sớm sửa chữa cầu Chợ Cầu, Bến Phân và cầu Trường Đai (giáp ranh với Hóc Môn). Đối với các đường hướng dẫn từ lộ chính vào các khu dân cư, vận động nhân dân cùng Nhà nước trong việc duy tu bảo dưỡng, cả hệ thống thoát nước ở các khu vực thường bị lầy lội vào mùa mưa.

Quận sớm có phương án phát triển mạng lưới điện, điện thoại và hệ thống nước máy phục vụ cho bệnh viện, các cơ quan hành chính, các khu sản xuất (tranh thủ vốn đầu tư của Thành phố).

4. Mở rộng và tăng cường hoạt động thương nghiệp xã hội chủ nghĩa:

Trước tình hình kinh tế đối ngoại đang mở rộng và nền sản xuất hàng hóa đang phát triển theo xu hướng đổi mới, cuộc cạnh tranh mạnh mẽ giữa thương nghiệp và xã hội chủ nghĩa và tư thương sẽ rất phức tạp và quyết liệt. Do vậy, thương nghiệp xã hội chủ nghĩa phải nhanh chóng đổi mới phương thức hoạt động, phải rất năng động mới giữ được vai trò chủ đạo và phục vụ tốt hơn cho sản xuất, đời sống. Trong đó hoạt động xuất nhập khẩu đóng vai trò tác động chính để thúc đẩy các hoạt động của quận phát triển. Doanh số xuất năm 1989 đạt 8 triệu đô la/rúp và năm 1990 là 10 triệu đô la/rúp.

Thương nghiệp xã hội chủ nghĩa phải nhanh chóng sắp xếp lại bộ máy tổ chức, biên chế và mạng lưới cửa hàng cho phù hợp, đảm bảo có hiệu quả thực sự, phải chi phối phần lớn bán buôn tại thị trường quận, sử dụng tư thương làm đại lý bán lẻ đến tay người tiêu dùng. Củng cố thương nghiệp hợp tác xã tiêu thụ quận và phường có hoạt động thiết thực phục vụ nhân dân. Việc sử dụng tư thương trong các cửa hàng quốc doanh  cần hạn chế, tránh không để họ lợi dụng cửa hàng quốc doanh mà trốn thuế.

Mở rộng dịch vụ tổng hợp. Chú trọng dịch vụ công nghiệp, dịch vụ kiều hối dưới các hình thức liên doanh cho thuê mặt bằng và nhận đầu tư... để xây dựng các trọng điểm dịch vụ, ăn uống khách sạn và du lịch, chú ý khai thác những mặt bằng gần sân bay Tân Sơn Nhất.

Củng cố và mở rộng khu thương nghiệp Ngã Năm, xây dựng lại chợ Gò Vấp, chợ Thông Tây Hội.

II- NHỮNG NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG QUAN TRỌNG ĐẾN SỰ PHÁT TRIỂN KINH TẾ CỦA QUẬN:

1. Các ngành kinh tế tổng hợp và quản lý chuyên ngành:

Nắm bắt kịp thời chủ trương, chính sách mới của cấp trên và bám sát các mục tiêu kinh tế xã hội của quận, mạnh dạn và sáng tạo trong vận dụng. Các ngành chủ quản thực hiện đúng chức năng quản lý hành chính kinh tế, vai trò tham mưu hướng dẫn cải tiến các thủ tục đăng ký kinh doanh và sản xuất, báo cáo... sao cho nhanh gọn, chính xác. Tôn trọng chức năng quản lý sản xuất, quản lý kinh doanh của cơ sở. Sử dụng có hiệu quả các chính sách đòn bẩy kinh tế để hướng các đơn vị sản xuất kinh doanh (với mọi thành phần kinh tế) đi vào quỹ đạo xã hội chủ nghĩa phù hợp chủ trương, chính sách chung và điều kiện thực tế của quận. Cần lưu ý một số vấn đề sau đây:

+ Kiên quyết đổi mới công tác kế hoạch thu hút sự tham gia của cơ sở và của các ngành chức năng liên quan, có căn cứ hiện thực và có khả năng thực hiện được ở mức độ cao. Công tác kế hoạch phải dự đoán được xu thế phát triển của tình hình, bám các mục tiêu kinh tế của quận để mở ra các hướng mới. Tiếp tục bổ sung chiến lược phát triển kinh tế xã hội của quận đến năm 2.000. Đổi mới cách giao chỉ tiêu kế hoạch với phương hướng: giảm bớt tối đa chỉ tiêu pháp lệnh, tạo điền kiện cho cơ sở hoàn toàn chủ động sản xuất kinh doanh, bảo đảm giá trị đồng vốn và vốn ngày càng tăng lên, thực hiện nộp lợi nhuận và các khoản nộp ngân sách đủ theo quy định (có vật tính chuẩn). Do đó phải quan tâm củng cố sớm chất lượng cán bộ của Phòng kế hoạch để đáp ứng yêu cầu.

+ Khai thác triệt để các nguồn thu để đảm bảo giải quyết nhu cầu chi. Phấn đấu tự cân đối ngân sách. Ngành tài chính phải đổi mới cách tính toán, căn cứ vào các nguồn vốn (ngân sách tín dụng và vay ngoài) để giao chỉ tiêu nộp ngân sách thỏa đáng cho từng đơn vị sản xuất kinh doanh. Thực hiện chế độ khuyến khích tài chính: với phần vốn ngân sách thì có mức lợi nhuận kế hoạch quy định; khi các đơn vị hoàn thành vượt mức chỉ tiêu lợi nhuận kế hoạch thì cần có biện pháp tính thưởng lũy tiến. Các ngành tham mưu chức năng cần hướng dẫn các đơn vị sản xuất, kinh doanh tính quỹ lương theo kết quả lao động cuối cùng (thực lãi, không theo doanh số). Thường xuyên kiểm tra hiệu quả đồng vốn đầu tư giữa các đơn vị sản xuất, kinh doanh giữ được giá trị thật của đồng vốn và hoạt động đơn vị ngày càng có hiệu quả kinh tế thật sự.

+ Mở rộng nguồn thu bằng các hoạt động tác động phát triển các cơ sở sản xuất kinh doanh (quốc doanh và ngoài quốc doanh). Có chính sách miễn, giảm thuế hợp lý để khuyến khích phát triển sản xuất. Mức thuế phải quán triệt tinh thần thu vừa phải trên từng đơn vị sản phẩm, bảo đảm cho người sản xuất kinh doanh có lãi hợp lý, họ sẽ làm ra càng nhiều sản phẩm thì thuế thu được cũng nhiều hơn, đó thực sự là thu đúng. Cần thu đủ, thu kịp thời không để tồn đọng thuế.

+ Chi nhánh Ngân hàng Công thương 9 và Trung tâm Tín dụng quận phấn đấu bảo đảm cung ứng tiền mặt, vốn tín dụng nhanh chóng theo yêu cầu phát triển sản xuất, kinh doanh. Đổi mới phương thức kinh doanh tiền tệ tạo mọi điều kiện thuận lợi cho khách hàng.

2. Liên kết hợp tác kinh tế:

Nhu cầu liên doanh liên kết để phát huy, bổ sung thế mạnh cho nhau phải trên cơ sở bình đẳng, cùng có lợi. Phương thức liên kết có thể bằng nhiều hình thức, nhiều qui mộ và với mọi đơn vị trong và ngoài nước để tìm sự hỗ trợ bổ sung cho nhau về đồng vốn, về kỹ thuật tiên tiến, nguồn nguyên liệu, tiêu thụ sản phẩm... nhằm mở rộng sản xuất kinh doanh, nâng cao chất lượng sản phẩm và giải quyết lao động. Chú trọng việc liên kết ngay trong nội bộ các đơn vị của quận, giữa các thành phần kinh tế. Quận cần có bộ phận cố vấn kinh tế (có tính chất nghiệp vụ) do Ban Thường vụ Quận ủy chỉ đạo, không cần nhiều người song có trình độ cao, có kinh nghiệm, hiểu biết về kinh tế ngoại thương, nội thương và sản xuất, nhạy bén nắm bắt các chủ trương, chính sách mới, xu hướng mới, thị trường mới... tham mưu đề xuất thực hiện các chương trình, kế hoạch liên kết, liên doanh tổ chức sản xuất kinh doanh v.v... cũng như phát hiện kịp thời các trường hợp kinh doanh, sản xuất, liên kết... không có hiệu quả để uốn nắn sửa chữa, hạn chế tổn thất không đáng có.

3. Mạnh dạn sử dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật:

- Cần củng cố tăng cường cán bộ Tổ khoa học kỹ thuật. Tổ phải làm tốt nhiệm vụ định hướng một số công trình nghiên cứu và ứng dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật như: biện pháp nâng cao trình độ quản lý hành chính Nhà nước, quản lý kinh tế và kỹ thuật cho lực lượng cán bộ chủ chốt; cải tiến chế độ thông tin kinh tế, khoa học kỹ thuật, nghiên cứu những mặt hàng mới, cải tiến trang thiết bị và quy trình sản xuất nâng cao chất lượng sản phẩm, những mặt hàng thế mạnh của quận. Nghiên cứu nâng hiệu quả cây trồng, vật nuôi, nâng cao chất lượng giảng dạy và học tập của ngành giáo dục, chất lượng phục vụ của ngành y tế v.v…

Thực hiện chế độ thưởng thỏa đáng kể khuyến khích có thêm nhiều kết quả cụ thể.

Để làm tốt công tác này, ngoài việc nghiên cứu những đề tài trọng điểm do trên giao, từng đơn vị phải chủ động xây dựng kế hoạch nghiên cứu và ứng dụng các sáng kiến kỹ thuật, khuyến khích cạnh tranh lành mạnh trong sáng tạo các thành tựu khoa học kỹ thuật mới. Từng bước sẽ chuyển từ việc chỉ định người để giao đề tài nghiên cứu và chế độ bao cấp kinh phí sang chế độ “đấu thầu” nghiên cứu đề tài khoa học kỹ thuật để tuyển chọn chủ nhiệm đề tài. Mạnh dạn có chính sách ưu đãi thỏa đáng với sự cống hiến của “chất xám” bất kỳ từ nguồn nào kể cả người ở các nơi khác.

4. Chú trọng nâng chất lượng công tác Đảng và đoàn thể quần chúng phục vụ yêu cầu phát triển kinh tế xã hội. Thực hiện đúng Nghị quyết  03 Ban Chấp hành Trung ương, các tổ chức chính trị trong các đơn vị sản xuất kinh doanh phải là những trợ thủ đắc lực, có hiệu quả cho giám đốc. Mục đích chủ yếu là đảm bảo cho mọi hoạt động của đơn vị, đồng chí giám đốc và từng cán bộ, nhân viên đều rất năng động và có hiệu quả nhất, đúng pháp luật và thích hợp với điều kiện của quận.

Đồng chí Bí thư chi bộ có vai trò chức trách rất nặng trong việc điều phối mối quan hệ đó, nên đòi hỏi các đồng chí đó phải học tập rèn luyện về công tác Đảng cũng như về tổ chức kinh doanh sản xuất ngang tầm với đồng chí giám đốc.

III- ĐẨY MẠNH HOẠT ĐỘNG VĂN HÓA – XÃ HỘI:

1. Trên cơ sở phát triển sản xuất, kinh doanh và dịch vụ để thu hút ngày càng nhiều lao động có việc làm ổn định (5.000 người mỗi năm); đầu tư mở rộng hoạt động dạy nghề, hướng nghiệp phù hợp đề bổ sung tay nghề cho sản xuất tại quận trong những năm sau. Tạo thuận lợi cho nhân dân xây dựng mới và sửa chữa nhà ở sạch đẹp khang trang theo quy hoạch.

2. Thực hiện tốt việc trả lương gắn với kết quả lao động (thực lãi) với tỷ lệ hợp lý ở các đơn vị sản xuất kinh doanh và hành chính sự nghiệp có thu, trên cơ bản khoán hợp lý, phấn đấu tăng thu nhập cho khu vực hưởng lương Nhà nước, không để quá chênh lệch và bất hợp lý với khu vực sản xuất kinh doanh.

3. Nâng cao chất lượng hoạt động thông tin tuyên truyền và văn hóa văn nghệ cả bề rộng lẫn bề sâu. Với cơ sở vật chất hiện có, phải nâng lên mức hưởng thụ văn hóa cho nhân dân (trung tâm văn hóa quận, các cụm văn hóa khu vực) chú ý đời sống văn hóa ở cơ sở, đồng thời đưa chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước đến người dân một cách nhanh nhất bằng các phương tiện thông tin đại chúng. Đẩy lùi hiện tượng tiêu cực trong hoạt động văn hóa, văn nghệ, xóa bỏ văn hóa văn nghệ phản động, đồi trụy, giáo dục mạnh mẽ trong nhân dân ý thức chống mê tín dị đoan.

4. Bằng các biện pháp tích cực, tiếp tục nâng cao chất lượng dạy và học. Phát huy hơn nữa sự kết hợp ba môi trường giáo dục: nhà trường, gia đình và xã hội để ngăn ngừa thanh thiếu niên phạm pháp, hư hỏng; vận dụng chủ trương mở các trường lớp dân lập nhưng không tràn lan, phải có trọng điểm phù hợp với khả năng của quận.

5. Tiếp tục nâng cao chất lượng chăm lo sức khỏe cho nhân dân ngay từ khâu từ dịch bệnh, khám chữa bệnh và sản xuất thuốc trị bệnh thông thường phục vụ bệnh nhân. Phát động rộng, mạnh phong trào kế hoạch hóa gia đình, hạ mức tăng dân số còn 1,32%. Tăng cường chất lượng điều trị nhất là ở các tuyến cơ sở.

6. Duy trì và nâng chất lượng phong trào quần chúng hưởng ứng và tham gia thể dục thể thao, chú trọng khu vực thiếu niên, trường học và khu phố. Sử dụng có hiệu quả cơ sở hiện có đồng thời qua liên doanh, liên kết, đầu tư phát triển nâng cấp và phát triển thêm cơ sở vật chất.

7. Bảo đảm thực hiện đầy đủ, kịp thời các chính xã hội, nhất là đối với các đồng chí đã nghỉ hưu, diện chính sách và diện neo đơn quá khó khăn. Phát động liên tục phong trào “đền ơn đáp nghĩa” trong sâu rộng nhân dân gắn với phong trào thi đua phấn đấu trở thành “người công dân kiểu mẫu và gia đình cách mạng gương mẫu” làm hạt nhân trong các phong trào hành động cách mạng.

IV- ĐẢM BẢO AN NINH CHÍNH TRỊ VÀ TRẬT TỰ AN TOÀN XÃ HỘI, TĂNG CƯỜNG NỀN QUỐC PHÒNG TOÀN DÂN VÀ PHÁP CHẾ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA:

- Nâng cao ý thức cảnh giác cách mạng trong cán bộ đảng viên và nhân dân. Xây dựng lực lượng Công an mạnh về chất và giỏi về nghiệp vụ. Tiếp tục củng cố và phát động phong trào quần chúng bảo vệ an ninh chính trị, trật tự xã hội. Phát huy tác dụng của ba lực lượng bảo vệ an ninh trật tự (đã thống nhất) ở phường và từng địa bàn khu phố. Tiếp tục chuyển hóa các địa bàn trọng điểm và đối tượng phức tạp, bảo vệ tốt an ninh nội bộ và an ninh kinh tế trong từng đơn vị. Quản lý tốt di biến động nhân khẩu, tăng cường kiểm soát giao thông và bảo vệ tốt an toàn trật tự xã hội.

- Tăng cường công tác quận sự địa phương và xây dựng nền quốc phòng toàn dân vững mạnh. Xây dựng thế trận chiến tranh nhân dân, có phương án, kết hợp chặt chẽ với các đơn vị quốc phòng đóng trên địa bàn quận. Đưa công tác quấn luyện quận sự hàng năm vào nề nếp, thực hiện tốt luật nghĩa vụ quân sự, giao quân hàng năm đạt chỉ tiêu cả số và chất lượng, xử lý và giải quyết nghiêm túc các trường hợp không thực hiện lệnh và đào, bỏ ngũ. Coi trọng công tác hậu phương quân đội và giải quyết việc làm cho bộ đội hoàn thành nghĩa vụ quân sự trở về.

- Tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa, giáo dục từ trong Đảng đến quần chúng tuân thủ pháp luật. Củng cố hoạt động thanh tra chuyên trách và thanh tra công dân, thanh tra nhân dân. Công tác xét xử đảm bảo đúng người, đúng tội và đúng pháp luật, tăng cường công tác thi hành án, giải quyết tốt, kịp thời các đơn tố cáo, khiếu nại theo luật định. Xử lý thỏa đáng những người tố cáo sai sự thật.

V- CÔNG TÁC XÂY DỰNG LỰC LƯỢNG:

1. Công tác vận động quần chúng:

Cần quán triệt sâu sắc tư tưởng “lấy dân làm gốc” trong mọi khâu khi vạch chủ trương, cũng như khâu tổ chức thực hiện ở tất cả các đơn vị, đó chính là nguồn động lực đảm bảo kết quả của mọi hoạt động. Do đó, từng đoàn thể quần chúng cần hướng vào mục tiêu cụ thể, song đều nhắm vào yêu cầu chung và huy động phát huy mọi tiềm năng trong nhân dân để mở rộng sản xuất hàng hóa, không ngừng năng cao mức sống của nhân dân.

a. Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh:

Hướng hoạt động Đoàn vào công cuộc đổi mới, giáo dục lý tưởng cách mạng, nâng cao nhận thức trách nhiệm về tính xung kích của đoàn viên thanh niên đi vào đột phá những vấn đề cấp bách nhất.

Trong khu vực sản xuất kinh doanh phải hướng vào mục tiêu: “Năng suất – Chất lượng – Hiệu quả –  Tiết kiệm” tham gia cải tiến cơ chế quản lý, tiến công và lĩnh vực khoa học kỹ thuật, cải tiến quy trình công nghệ tăng năng suất lao động, nâng cao chất lượng sản phẩm và làm ra sản phẩm, mới v.v...

Trong các trường học, Đoàn bám chắc mục tiêu: đẩy mạnh phong trào thi đua “hai tốt” cải tiến phương pháp giảng dạy và học tập, nâng cao lòng yêu nghề, chủ động khắc phục khó khăn góp phần nâng cao chất lượng dạy và học. Xây dựng Đội mạnh, đoàn kết thương yêu nhau giúp đỡ nhau trong học tập. Có phương pháp tốt để giáo dục làm chuyển hóa số học sinh cá biệt.

Ở khu phố, thanh niên phải là lực lượng xung kích tham gia phong trào giữ gìn an ninh, trật tự xã hội, xây dựng nếp sống mới và các quan hệ xã hội, lành mạnh, giáo dục bộ phận thanh niên chậm tiến, chuyển hóa các địa bàn phức tạp thành khu vực an toàn..

Chăm lo các nhu cầu thiết thân của thanh niên, trước hết là việc làm, học tập, sinh hoạt văn hóa, mở rộng Hội Liên hiệp Thanh niên Việt Nam, chú ý công tác vận động thanh niên có đạo và người Hoa. Đa dạng hóa các loại hình tập hợp thanh niên, phù hợp với lợi ích chính đáng và nhu cầu đa dạng của thanh niên, Đoàn thanh niên có trách nhiệm giới thiệu cho Đảng những đoàn viên ưu tú để phát triển vào Đảng và phải có trách nhiệm đào tạo một đội ngũ kế thừa cho Đảng ở khắp các lĩnh vực hoạt động.

Để thực hiện các nhiệm vụ nói trên, phải củng cố tăng cường Ban Chấp hành Quận đoàn và Phường đoàn; có biện pháp nâng cao chất lượng đoàn viên.

b. Liên đoàn lao động:

Xây dựng tổ chức công đoàn, đặc biệt trong các đơn vị kinh tế, vững mạnh cả về số lượng và chất lượng. Củng cố và nâng cao vai trò của Hội lao động hợp tác; đồng thời nghiên cứu hình thức tổ chức và phương thức hoạt động của Hội phù hợp với từng loại hình kinh tế.

Tổ chức các phong trào thi đua lao động sản xuất, qua đó nâng cao trình độ chính trị, giác ngộ giai cấp, xây dựng thái độ lao động đúng, giáo dục ý thức về nghĩa vụ và quyền lợi về ba lợi ích... đi đôi với việc từng bước nâng cao trình độ văn hóa, khoa học, kỹ thuật, tay nghề nhằm tạo ra khối lượng sản phẩm ngày càng nhiều, chất lượng ngày càng tốt, giá thành ngày càng hạ. Phải trên cơ sở tăng năng suất lao động và không ngừng nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho người lao động.

Trước yêu cầu đổi mới, các tổ chức công đoàn phải thực hiện tốt chức năng tham gia quản lý và giám sát hoạt động của các cơ quan Nhà nước, bảo vệ lợi ích chính đáng của người lao động.

Tích cực đấu tranh chống các hiện tượng tiêu cực, bảo vệ cái đúng, giữ gìn kỷ luật và tuân thủ pháp luật.

c. Hội Liên hiệp Phụ nữ:

Giáo dục và nâng cao lòng yêu nước, ý thức phấn đấu thực hiện quyền bình đẳng của phụ nữ, đẩy mạnh phong trào “người phụ nữ mới” tích cực tham gia thực hiện các nhiệm vụ kinh tế  – xã hội của địa phương, vận động tổ chức sản xuất dưới các hình thức phù hợp với điều kiện, khả năng của từng gia đình (theo tinh thần Nghị quyết 16 của BCT).

Động viên chị em tham gia các khâu trong quản lý Nhà nước phân phối lưu thông, công tác xã hội, tích cực tham gia và kiểm tra việc thực hiện các chế độ chính sách đối với lao động nữ.

Vận động phong trào xây dựng “gia đình văn hóa mới”, xây dựng tình đoàn kết trong tổ dân phố, chống mê tín dị đoan, thực hiện tốt sinh đẻ có kế hoạch. Qua các phong trào đó, Hội đoàn kết tập hợp chị em phụ nữ vào tổ chức, nâng cao chất lượng hội viên, chất lượng sinh hoạt tiểu tổ, bồi dưỡng đào tạo cán bộ Hội v.v…

d. Ủy ban Thiếu niên nhi đồng:

Vận động toàn dân tham gia vào sự nghiệp bảo vệ chăm sóc và giáo dục trẻ em. Ủy ban thiếu niên nhi đồng phải chủ động phối hợp cùng các ban ngành đoàn thể nhân dân liên quan thực hiện tốt pháp lệnh bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em. Cần quan tâm trong việc nuôi dưỡng trẻ em bảo đảm chất lượng, tiếp tục thực hiện có hiệu quả chuyên đề chống suy dinh dưỡng, có kế hoạch quản lý sức khỏe trẻ em từ sơ sinh đến 5 tuổi. Đỡ đầu cho các em nghèo học giỏi, hiếu học. Chăm sóc tốt hơn số trẻ em chưa ngoan, các em theo học lớp đêm trẻ khuyết tật. Thường xuyên vận động các bậc cha mẹ, các ông bà thực hiện tốt quy ước giáo dục con em trong gia đình. Kiên quyết xử lý những trường hợp người lớn vi phạm nhân phẩm trẻ em.

e. Hội Nông dân Việt Nam:

Tuyên truyền giáo dục trong nông dân thực hiện tốt các chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước đặc biệt là những chỉ thị, nghị quyết về đổi mới cơ chế quản lý kinh tế trong nông nghiệp, bảo vệ và củng cố các đơn vị sản xuất tập thể theo các hình thức phù hợp với trình độ quản lý, tình hình dân cư có hiệu quả hơn.

Vận động nông dân ứng dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật để giải quyết các vấn đề năng suất, giống, cây con. Đồng thời phải hết sức chú trọng xây dựng đoàn kết nội bộ nông dân, nếp sống mới con người mới ở nông thôn, xóa dần mê tín dị đoan, thực hiện sinh đẻ có kế hoạch. Từ quá trình trên mà xây dựng phong trào, củng cố và phát triển hội nông dân vững mạnh.

g. Mặt trận Tổ quốc:

Làm tốt chức năng đầu mối phối hợp hành động của các tổ chức thành viên trong Mặt trận Tổ quốc. Tăng cường hơn nữa công tác xây dựng và củng cố vững chắc khối đại đoàn kết toàn dân, động viên khuyến khích các tầng lớp nhân dân, các thành niên tham gia các phong trào thi đua yêu nước, khắc phục mọi khó khăn góp phần trực tiếp tổ chức sản xuất, mở rộng các hoạt động xã hội, từ thiện, chăm lo hoạt động của phụ lão, làm nòng cốt trong các phong trào vận động nhân dân đóng góp xây dựng Tổ quốc, kiên quyết vạch mặt mọi âm mưu phá hoại của địch.

2. Công tác xây dựng chính quyền:

- Tăng cường củng cố hệ thống chính quyền từ quận đến cớ sở vững mạnh, làm tốt chức năng quản lý hành chính Nhà nước, mọi hoạt động kinh tế và xã hội, đảm bảo quyền làm chủ của nhân dân được phát huy tốt nhất.

- Thực hiện đúng chức năng Đảng lãnh đạo Nhà nước; không bao biện, làm thay, cũng không khoán trắng, nhưng phải thường xuyên kiểm tra và phối hợp chặt hoạt động của cơ quan Đảng và chính quyền. Quận ủy, Phường ủy cần nâng cao năng lực và chất lượng chỉ đạo hoạt động của Hội đồng Nhân dân, Ủy ban Nhân dân và các phòng ban thuộc quận, phường. Từng bước giảm bớt đầu mối trung gian. Tiếp tục tinh giảm kiện toàn bộ máy hành chính gọn, nhẹ có hiệu quả thực sự.

- Nghiên cứu xin nới rộng địa giới quận theo nguyện vọng nhân dân gắn với truyền thống lâu đời của quận. Đồng thời nghiên cứu sát nhập phường tương đối thuận lợi hơn tạo điều kiện cho phường phát triển.

- Chỉ đạo tổ chức tốt cuộc bầu cử Hội đồng Nhân dân và Ủy ban Nhân dân Quận, phường vào quý IV/1989, qua đó nâng chất lượng hoạt động và đội ngũ cán bộ của chính quyền; nâng cao năng lực cụ thể hóa chủ trương, chính sách và trình độ tổ chức thực hiện từ quận đến cơ sở.

3. Công tác xây dựng Đảng:

a) Về tư tưởng:

Quán triệt Nghị quyết Hội nghị lần thứ 5 của Ban Chấp hành Trung ương (khóa VI) về xây dựng Đảng và kết luận của Bộ Chính trị về công tác tư tưởng nhằm nâng cao nhận thức của bộ đảng viên theo kịp các yêu cầu của giai đoạn chuyển hướng kinh tế của Đảng để không ngừng rèn luyện củng cố quan điểm, lập trường giai cấp công nhân và lý tưởng cộng sản chủ nghĩa.

Coi trọng công tác đào tạo, bồi dưỡng nhận thức lý luận chính trị Mác-Lênin, kiến thức quản lý Nhà nước và kinh tế từ thấp đến cao phù hợp từng đối tượng cán bộ, đảng viên, bằng nhiều hình thức và có chính sách đãi ngộ thích hợp giúp các đồng chí yên tâm và nâng cao trách nhiệm trong học tập.

Tăng cường giáo dục phẩm chất đạo đức cách mạng, nêu cao tính trung thực, thẳng thắn, bài trừ thói lừa dối, nịnh bợ, cơ hội... là mầm móng gây ra mất đoàn kết nội bộ, làm giảm sút sức chiến đấu của Đảng bộ và mất lòng tin của quần chúng đối với Đảng.

Kiên quyết ngăn chặn những biểu hiện sa sút về phẩm chất chính trị, vô kỷ luật về tổ chức và thoái hóa về lối sống.

b) Công tác tổ chức cán bộ:

Khẩn trương qui hoạch đội ngũ các bộ chủ chốt và dự bị để có kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng, trên cơ sở sớm tiêu chuẩn hóa từng loại cán bộ (lãnh đạo, quản lý chuyên môn...) và theo hướng trẻ hóa đội ngũ cán bộ.

Trước mắt, từ yêu cầu nhiệm vụ Nghị quyết đề ra, cần nhanh chóng bố trí cán bộ phù hợp có đủ trình độ, năng lực tổ chức thực hiện có hiệu quả.

Trong đánh giá sử dụng cán bộ phải đảm bảo tính tập thể dân chủ và công khai, lấy tiêu chuẩn hiệu quả làm thước đo, không cảm tính, hẹp hòi định kiến và cũng không phân biệt cán bộ từ nguồn nào, trong hay ngoài Đảng (đối với lĩnh vực chính quyền, kinh tế, các tổ chức, xã hội).

- Trong công tác phát triển Đảng, hết sức coi trọng chất lượng, chú trọng trẻ, nữ và công nhân ưu tú.

c) Công tác kiểm tra Đảng:

Trước tình hình diễn biến kinh tế - xã hội nhiều phức tạp, đòi hỏi phải tăng cường công tác kiểm tra, vừa thúc đẩy việc thực hiện quyết định, ngăn ngừa sai phạm vừa tăng cường 4 nề nếp giữ gìn kỷ luật Đảng, không ngừng nâng cao sức chiến đấu của Đảng bộ. Coi trọng công tác tự kiểm tra trong từng cơ sở Đảng.

Tổ chức tốt hơn nữa công tác tiếp dân và giải quyết thư khiếu tố của cán bộ đảng viên và nhân dân.

VI - TỔ CHỨC CHỈ ĐẠO THỰC HIỆN:

1- Ngay sau Đại hội các Chi, Đảng bộ cơ sở, các cơ quan chức năng tổ chức những buổi nghiên cứu quán triệt và bàn biện pháp thực hiện nghị quyết này (phần việc liên quan) và điều chỉnh bổ sung nghị quyết cơ sở.

2- Cần có biện pháp cụ thể, tích cực để nâng cao năng lực lãnh đạo, nhất là lãnh đạo kinh tế, của các cấp ủy Đảng và chính quyền cơ sở, của cán bộ, nhất là cán bộ các cơ quan tham mưu, có ý nghĩa rất quyết định đến việc thực hiện nghị quyết.

3- Ổn định tổ chức bộ máy, phân định rõ chức năng, nhiệm vụ, lề lối làm việc, sắp xếp lại bộ máy quản lý ở các đơn vị theo hướng củng cố và tăng cường chất lượng, hiệu quả, giảm lực lượng gián tiếp. Hướng các hoạt động của bộ máy Đảng, cơ quan và đoàn thể theo quy chế đảm bảo hiệu lực chỉ đạo của Đảng, hiệu lực quản lý hành chính và quản lý kinh tế xã hội của chính quyền. Kiên quyết thay đổi sớm những cán bộ không đủ năng lực đảm trách công việc. Tăng cường cho các đơn vị kinh tế các đơn vị trọng điểm, những cán bộ có kinh nghiệm và hiểu biết về kinh tế kỹ thuật. Gấp rút hoàn thành việc xây dựng quy hoạch đội ngũ cán bộ, đưa công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ vào kế hoạch nhằm đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ sắp tới.

4- Nâng cao trách nhiệm cá nhân của mỗi cấp ủy viên để vừa đóng góp chất lượng vào sự lãnh đạo tập thể của Ban chấp hành, vừa phát huy tác dụng chỉ đạo trên cương vị công tác được phân công. Phát huy đầy đủ trí tuệ và năng lực tập thể cấp ủy, nhất là đối với những vấn đề lớn, mới, phức tạp để có những quyết định đúng đắn, đáp ứng được nguyện vọng của quần chúng và cơ sở.

5- Cải tiến phong cách lãnh đạo, lề lối làm việc thật khoa học, sát tình hình cơ sở, kịp thời giải quyết những kiến nghị, đề xuất của cơ sở nhằm khai thác tốt nhất khả năng của sở, động viên được tính tích cực, sáng tạo của quần chúng. Thực hiện thông tin được đầy đủ, trung thực, công khai đến tận đảng viên và có mức đến quần chúng để tranh thủ ý kiến của đảng viên, quần chúng và cơ sở để tìm ra các giải pháp có lợi nhất.

6- Phát hiện và nhân nhanh các nhân tố tích cực, các điển hình tiên tiến, bồi dưỡng xây dựng những điển hình tiên tiến mới, tổ chức các phong trào thi đua học tập và đuổi kịp điển hình. Thường xuyên sơ kết, tổng kết việc thực hiện các Nghị quyết, rút ra bài học thực tiễn để bổ sung, điều chỉnh các chủ trương cho phù hợp tình hình thực tế, đồng thời để nâng chất lượng lãnh đạo và chỉ đạo.

7- Đề cao công tác kiểm tra, đảm bảo các biện pháp thực hiện Nghị quyết nêu ra được hoàn thành.

Đại hội giao cho Ban Chấp hành có trách nhiệm cụ thể hóa Nghị quyết Đại hội bằng Nghị quyết từng năm, 6 tháng, quý, kế hoạch từng tháng và chương trình công tác hàng tuần. Có vận dụng các chủ trương chỉ đạo của Trung ương và Thành phố để tổ chức thực hiện trong từng thời kỳ.

Hai năm 1989 – 1990 là 2 năm cuối thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI và Nghị quyết đại hội Đảng bộ Thành phố lần thứ IV; Đảng bộ, chính quyền và nhân dân quận Gò Vấp tiếp tục phát huy truyền thống anh hùng cách mạng trong kháng chiến và trong xây dựng, bảo vệ Tổ quốc; với đội ngũ cán bộ đã kinh qua thực tiễn, với kinh nghiệm quý báu đúc kết sau 14 năm giải phóng, nhất là trong những năm gần đây; và với cơ chế mới ngày càng “mở thoáng” của thời kỳ đầu đổi mới, chúng ta hoàn toàn có khả năng đưa quận đi lên.

ĐẠI HỘI ĐẠI BIỂU ĐẢNG BỘ QUẬN GÒ VẤP LẦN THỨ V


 

Thông báo