Thứ Bảy, ngày 25 tháng 6 năm 2022

Báo cáo chính trị Đại hội đại biểu Đảng bộ Quận Gò Vấp lần VIII nhiệm kỳ 2000 - 2005

Đại hội Đại biểu Đảng bộ quận Gò Vấp lần VII đã xác định phương hướng nhiệm vụ 5 năm (1996 – 2000) là: “Tiếp tục thực hiện cơ cấu kinh tế công nghiệp – thương mại - dịch vụ - du lịch – kinh tế vườn”; phát huy mọi tiềm năng thế mạnh của quận về đất đai, lao động, đẩy mạnh phát triển kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Tập trung mọi nguồn lực để thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Thực hiện các chính sách xã hội ngang tầm với phát triển kinh tế. Giữ vững ổn định chính trị và đảm bảo an toàn xã hội. Tiếp tục đổi mới và chỉnh đốn Đảng, nâng cao vai trò lãnh đạo toàn diện của Đảng bộ trong hệ thống chính trị. Nâng cao hiệu lực quản lý Nhà nước. Đẩy mạnh xây dựng khối đại đoàn kết thống nhất, phát huy vai trò làm chủ của nhân dân, tập trung xây dựng quận, tạo tiền đề vững chắc bước vào thế kỷ 21”.

Qua 5 năm thực hiện phương hướng nhiệm vụ mục tiêu tổng quát của Nghị quyết Đại hội Đại biểu Đảng bộ quận lần VII (1996 – 2000). Trong bối cảnh thuận lợi cơ bản là sự nghiệp đổi mới, Đảng ta đã lãnh đạo đất nước vượt qua những diễn biến phức tạp của tình hình thế giới và thiên tai xảy ra liên tiếp, vượt qua cơn khủng hoảng kinh tế khu vực và thế giới, hạn chế những biến động, khắc phục khó khăn, đạt được những thành tựu quan trọng về kinh tế - xã hội. Đã tạo điều kiện cho Đảng bộ Quận phát huy tinh thần năng động sáng tạo trong lãnh đạo thực hiện những nhiệm vụ mục tiêu tổng quát và thực hiện đạt hiệu quả nhiều chỉ tiêu Nghị quyết Đại hội Đại biểu Đảng bộ Quận đã đề ra trên từng lĩnh vực cụ thể như sau:

PHẦN THỨ NHẤT
NHỮNG BIẾN ĐỔI 5 NĂM QUA TRÊN ĐỊA BÀN QUẬN (1996 – 2000)

I. NHỮNG KẾT QUẢ TRÊN TỪNG LĨNH VỰC:

1. Kinh tế:

Nền kinh tế của quận trong 5 năm qua giữ vững tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân mỗi năm 13,65% (so với nghị quyết đề ra: tăng 12%/năm).

a. Sản xuất công nghiệp:

Đảng bộ đã có nghị quyết chuyên đề công nghiệp hoá hiện đại hoá sản xuất công nghiệp của quận Gò Vấp đến năm 2000. Hoạt động sản xuất công nghiệp của quận đã phát triển theo hướng mở rộng qui mô sản xuất, đổi mới công nghệ, trang thiết bị, phát triển thêm mặt hàng, tăng sản lượng và nâng dần chất lượng sản phẩm, nhìn chung đến nay cả về tốc độ phát triển giá trị sản xuất công nghiệp tăng hàng năm bình quân 20,6%,về cơ sở sản xuất công nghiệp và lao động công nghiệp đều có hướng tăng cao so với năm 1996. Trong đó khu vực sản xuất cá thể chiếm tỷ trọng 40% giá trị sản xuất công nghiệp. Tổng vốn đầu tư phát triển công nghệ, nhà xưởng 5 năm qua khoảng trên 343 tỷ (vốn đăng ký).

Chia theo ngành kinh tế có giá trị sản xuất công nghiệp chiếm tỷ trọng cao có thế mạnh trong cơ cấu ngành kinh tế: da, giả da, sản phẩm từ cao su, dệt, may, chế biến thực phẩm… Trong đó phần lớn đã từng bước khẳng định thương hiệu, giành được thị phần trong nước và xuất khẩu.

Riêng khu vực sản xuất công nghiệp tập trung tại phường 12 đã được hình thành theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá, qui mô sản xuất vừa và nhỏ, phần lớn sản phẩm phục vụ xuất khẩu. Đến nay tại khu vực này đã thu hút 40 doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế đầu tư sản xuất.

b. Sản xuất nông nghiệp:

Đảng bộ Quận đã có nghị quyết phát triển mô hình kinh tế vườn của quận Gò Vấp đến năm 2000, với nhiệm vụ trọng tâm là xây dựng nông thôn mới gắn với chương trình phát triển đô thị hoá, thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở vùng nông nghiệp. Đã tập trung chuyển đổi cơ cấu cây trồng vật nuôi, thực hiện điều chỉnh quy hoạch trung tâm hoa kiểng tại phường 11. Thế mạnh của sản xuất nông nghiệp là từ sản xuất trồng trọt chăn nuôi thương phẩm đã chuyển mạnh thành vùng cung cấp giống, nhiều hộ nông dân đạt giá trị cao trong sản xuất kinh doanh dịch vụ, hoa kiểng…

Một trong những kết quả quan trọng là đã góp phần xây dựng một vùng nông thôn mới, quá trình đô thị hoá cũng chính là quá trình quy hoạch, xây dựng nhiều công trình hạ tầng vùng nông nghiệp như: các đường giao thông, hệ thống thoát nước, điện, điện thoại, hệ thống trường từ mầm non, tiểu học, trung học cơ sở, phổ thông trung học được xây dựng mới hoặc tu bổ nâng cấp. Vận động trên 1000 hộ dân hưởng ứng thực hiện quy hoạch mở rộng các tuyến đường trong vùng nông nghiệp: đường Quang Trung, Thống Nhất, Lê Văn Thọ, Phạm Văn Chiêu…

Về đời sống: Các phong trào đoàn kết tương trợ, xây dựng đời sống văn hoá ở cơ sở, phong trào xóa đói giảm nghèo, vay vốn sản xuất, giải quyết việc làm… đã từng bước nâng cao được mức sống của người nông dân về vật chất, tinh thần. Các mô hình trồng trọt chăn nuôi đến nay có gần 600 hộ sản xuất giỏi có thu nhập từ 30 – 50 triệu đồng/năm, chiếm tỉ lệ 35% hộ nông dân. Có gần 1000 hộ sản xuất khá có thu nhập từ 10 triệu đến dưới 30 triệu đồng/năm, chiếm tỉ lệ gần 60%.

c. Thương mại dịch vụ:

Thực hiện nghị quyết về định hướng phát triển thương mại dịch vụ quận Gò Vấp đến năm 2000, nhìn chung thời gian qua đã thực hiện có kết quả mục tiêu tổng quát phát triển thương mại dịch vụ trên địa bàn quận: tạo ra môi trường thông thoáng, thuận lợi để kêu gọi các thành phần kinh tế mạnh dạn đầu tư phát triển, thương mại dịch vụ tạo ra nhiều việc làm cho xã hội, phục vụ tốt hơn đời sống nhân dân lao động, tạo sự chuyển dịch mạnh trong cơ cấu kinh tế theo định hướng công nghiệp hóa, hiện đại hoá.

Đã định hình và phát triển hiệu quả hoạt động các khu thương mại - dịch vụ tập trung: Ngã Sáu, các chợ Gò Vấp, Thông Tây, Xóm Mới, An Nhơn, Tân Sơn Nhất và mạng lưới kinh doanh thương mại dịch vụ dọc các tuyến đường lớn. Trong lĩnh vực thương mại dịch vụ có 3 doanh nghiệp Nhà nước, 260 Cty TNHH, DNTN và trên 8000 hộ kinh doanh cá thể vốn đăng ký từ 43,8 tỷ đồng đến nay đã lên đến 122 tỉ đồng, duy trì hoạt động của 3 HTX tiêu thụ phường, 7 HTX vận tải phục vụ lớn yêu cầu vận chuyển, đi lại trong nhân dân. Tổng mức hàng hoá chu chuyển trong thị trường tăng bình quân hàng năm: 36,6% (1996: 2500 tỉ, đến năm 2000 dự kiến 6,210 tỉ). Đã nâng tỉ trọng thương mại dịch vụ trong GDP đến năm 2000 là 18% (chỉ tiêu: 16 – 20%).

Kim ngạch xuất khẩu năm 1996 là 25,6 triệu USD, dự kiến năm 2000 là 47 triệu USD, tốc độ tăng bình quân 32,5%. Thị trường xuất khẩu mở rộng mặt hàng xuất khẩu ngày càng đa dạng: sơn mài, gỗ tinh chế, may mặc, hàng nông sản… Kim ngạch nhập khẩu năm 1996 là 15 triệu USD, dự kiến năm 2000 là 26,3 triệu USD, tốc độ tăng bình quân 9,8%/năm.

d. Xây dựng cơ sở vật chất hạ tầng:

Trong nhiệm kỳ VII (1996 – 2000) Đảng bộ Quận đã xác định việc phát triển cơ sở hạ tầng phải gắn với chương trình đô thị hóa và đề án quy hoạch tổng thể của quận đến năm 2000. Thời gian qua, Đảng bộ quận đã cụ thể hoá bằng nghị quyết về việc tăng cường công tác quản lý dân nhận cư và quản lý xây dựng đến năm 2000, đã thực hiện điều chỉnh quy hoạch tổng thể, điều chỉnh quy hoạch các khu dân cư, khu sản xuất công nghiệp tập trung tại phường 12. Thực hiện thi công các tuyến đường giao thông, các trục đường lớn (mở rộng lộ giới, mở rộng vòng xoay Ngã 6, cấp nước, thoát nước, vỉa hè, điện, điện thoại, hệ thống chiếu sáng, cây xanh…). Xây dựng mới, nâng cấp mạng lưới trường lớp từ hệ mầm non, tiểu học, phổ thông cơ sở, phổ thông trung học, trung tâm dạy nghề, trung tâm bồi dưỡng chính trị… đã thực hiện xây dựng khu trung tâm hành chánh quận phục vụ cho chương trình cải cách hành chính, thực hiện một cửa một dấu. Hầu hết các trụ sở cơ quan UBND và CA các phường đã được xây dựng mới. Với tổng kinh phí ngân sách đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng 5 năm qua: 362 tỉ (hạ tầng kỹ thuật: 77%, hạ tầng xã hội: 23%). Tổng vốn đầu tư toàn xã hội phát triển cơ sở hạ tầng tính chung đã đạt mục tiêu 750 – 1000 tỉ đồng trong 5 năm qua.

2. Văn hoá xã hội:

Đảng bộ quận nhiệm kỳ VII (1996 – 2000) đã thực hiện đúng mục tiêu Nghị quyết Đại hội Đảng bộ Quận đề ra: “Tăng trưởng kinh tế phải đi đôi với giải quyết tốt các vấn đề xã hội, đảm bảo việc làm, nâng cao đời sống sinh hoạt, học tập, chăm sóc sức khỏe, nâng cao mức hưởng thụ văn hoá của nhân dân, đẩy lùi các tệ nạn xã hội”.

Nhiệm kỳ qua, trên lĩnh vực văn hoá xã hội đã được Đảng bộ Quận cụ thể hoá sự lãnh đạo tổ chức thực hiện bằng các nghị quyết chuyên đề như: “Lãnh đạo xây dựng môi trường văn hoá xã hội lành mạnh trên địa bàn quận từ nay đến năm 2000”. Nghị quyết “Về chương trình hành động thực hiện Nghị quyết hội nghị lần thứ 2 BCH Trung ương khóa VIII về giáo dục đào tạo”, chương trình hành động thực hiện Nghị quyết Trung ương 5 “Về xây dựng và phát triển nền văn hoá Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc” đã đạt nhiều chuyển biến tích cực trong nhận thức và hành động của toàn Đảng bộ, kết quả trên một số lĩnh vực cụ thể như:

-          Giải quyết việc làm: (từ 1996 – 2000) đã có trên 57.000 lao động (bình quân 11.500 lao động/năm) được giải quyết việc làm bằng nhiều hình thức: cung ứng lao động cho các thành phần kinh tế, dạy nghề, trợ vốn… vượt chỉ tiêu Nghị quyết Đại hội Đảng bộ quận lần VII đã đề ra (giải quyết việc làm hàng năm từ 7000 – 8000 lao động).

-          Xóa đói giảm nghèo: Với tổng nguồn vốn hiện có là 3,39 tỉ đến nay đã trợ vốn cho 3853 hộ, đã đưa 1525 hộ gia đình vượt nghèo thông qua chương trình dự án nhỏ giải quyết việc làm đã có 120 dự án được duyệt với tổng số vốn trên 21 tỉ đồng. Đã giảm tỷ lệ hộ nghèo từ 10% (năm 1996) còn 5,32% (năm 2000).

-          Thực hiện tốt việc chăm lo chế độ chính sách: đối với hơn 4000 đối tượng đang hưởng chính sách. Từ 1996 đến năm 2000 toàn quận đã vận động xây dựng 67 căn nhà tình nghĩa, xây dựng 191 căn nhà tình thương, chống dột cho 148 hộ gia đình chính sách.

-          Giáo dục đào tạo: Tiếp tục giữ vững và phát huy các thành quả đã đạt được trong những năm qua với chất lượng ngày càng cao, thể hiện ở sự phát triển về qui mô trường lớp và học sinh, tỉ lệ huy động trẻ trong độ tuổi đến trường luôn đạt và vượt chỉ tiêu, chất lượng hiệu quả ở các bậc học: mầm non, phổ thông, kể cả hướng nghiệp, giáo dục thường xuyên luôn được nâng cao, tỉ lệ học sinh đỗ tốt nghiệp hàng năm luôn ở vị trí dẫn đầu thành phố. Từ năm 1996 đến nay liên tục được thành phố công nhận đạt tiêu chuẩn quốc gia về chống mù chữ, phổ cập tiểu học, phổ cập trung học cơ sở. Thực hiện sắp xếp lại mạng lưới, đa dạng hoá các loại hình trường lớp, xây dựng chất lượng cao ở một số ngành học. Phong trào xã hội hoá giáo dục được duy trì và phát triển. Năm năm qua sự nghiệp giáo dục đào tạo của quận nhà đã được Nhà nước khen thưởng 8 huân chương lao động hạng nhất, nhì, ba…

Công tác hướng nghiệp dạy nghề đã được củng cố phát triển với mạng lưới 9 cơ sở (1 trung tâm dạy nghề, 1 trung tâm hướng nghiệp, 7 cơ sở dạy nghề tư nhân). Bên cạnh việc đào tạo ngành nghề kỹ thuật ứng dụng, trung tâm dạy nghề và một số cơ sở đã chuyển hướng đào tạo phục vụ yêu cầu nắm bắt công nghệ mới, công nghiệp hoá, hiện đại hoá: tin học, điện tử, điện công nghiệp.

-          Hoạt động văn hoá thông tin: đạt kết quả tốt qua các đợt phục vụ các ngày lễ kỷ niệm trọng đại hàng năm, hoạt động tuyên truyền cổ động trực quan và thông tin lưu động đáp ứng kịp thời yêu cầu tuyên truyền theo từng chủ điểm. Phong trào văn hoá văn nghệ được duy trì qua các đợt hội thi, hội diễn phục vụ các ngày lễ tết. Các công tác thực hiện Nghị định 87-88/CP và Chỉ thi 814/TTg đã đáp ứng yêu cầu quản lý hoạt động các loại hình dịch vụ văn hoá trên địa bàn. Đã thực hiện trùng tu các di tích lịch sử văn hoá, góp phần giáo dục truyền thống cách mạng. Công tác xây dựng đời sống văn hoá cơ sở được tập trung có kết quả ở hai khu vực: xây dựng công sở văn minh sạch đẹp an toàn và xây dựng khu phố văn hoá, gia đình văn hoá.

-          Phong trào thể dục thể thao có nhiều cố gắng trong việc vận động số lượng người tập luyện thường xuyên luôn đạt trên 15% tổng số dân, các hoạt động rèn luyện thân thể được duy trì ở lực lượng học sinh và khối lực lượng vũ trang. Xây dựng lực lượng năng khiếu, thi đấu các giải phong trào, trọng điểm, vô địch cấp thành phố, toàn quốc, quốc tế cũng đã đạt nhiều thành tích cao trong một số bộ môn tham dự. Vận động có kết quả phong trào xã hội hoá thể dục thể thao: xây dựng nhiều sân tập luyện, hồ bơi, câu lạc bộ từ nguồn vốn nhân dân.

-          Công tác chăm sóc sức khỏe: Đã thực hiện theo tinh thần Nghị quyết TW 4 (khóa VII) về “Những vấn đề cấp bách của sự nghiệp chăm sóc sức khỏe nhân dân”. Nhận thức về 2 nhiệm vụ chiến lược của ngành là: nâng cao nhận thức chẩn đoán điều trị và chương trình chăm sóc sức khỏe ban đầu. Công tác khám chữa bệnh đã có nhiều cố gắng phục vụ số bệnh nhân điều trị ngày càng tăng phong trào xã hội hoá y tế với nhiều cơ sở khám chữa bệnh, cơ sở y dược trong nhân dân phát triển. Các chương trình y tế đạt kết quả tốt như: mạng lưới y tế cơ sở, vệ sinh phòng dịch, tiêm chủng mở rộng, chương trình sức khỏe phụ nữ, trẻ em. Công tác chăm sóc dân nghèo, công tác xã hội, phòng chống HIV/AIDS, phòng chống ma túy… Trong công tác vận động kế hoạch hoá gia đình đã góp phần hạ tỉ lệ tăng dân số tự nhiên còn 1,24% (so với chỉ tiêu nghị quyết: 1,40%).

3. Về an ninh quốc phòng:

a. An ninh:

Trong 5 năm qua (1996 – 2000) nhiệm vụ an ninh quốc phòng trên địa bàn quận đã thực hiện có kết quả việc giữ vững ổn định chính trị, giữ gìn trật tự an toàn xã hội, giữ vững thế trận an ninh nhân dân, đề cao tinh thần cảnh giác phòng chống các loại tội phạm và góp phần làm thất bại âm mưu diễn biến hoà bình của các thế lực thù địch.

Về trật tự an toàn xã hội đã quản lý tình hình trật tự đấu tranh chống buôn lậu và ngăn chặn có hiệu quả các loại tội phạm vi phạm kinh tế. Tình trạng phạm pháp hình sự diễn biến phức tạp nhưng do tăng cường công tác phá án, công tác sưu tra đối tượng nên phần lớn các vụ việc nghiêm trọng đã được điều tra khám phá. Công tác phối hợp đấu tranh phòng chống tham nhũng, phòng chống các tệ nạn xã hội đã được tập trung ngăn chặn xử lý kiên quyết tạo dư luận đồng tình. Đạt nhiều kết quả trong thực hiện các Nghị định 87-88/CP về quản lý môi trường văn hoá, xã hội lành mạnh, Nghị định 19/CP về giáo dục người có hành vi vi phạm pháp luật tại cộng đồng dân cư. Nghị định 36, 39, 40/CP về đảm bảo trật tự an toàn giao thông… giải quyết từng bước trật tự đô thị trên địa bàn.

Một trong những kết quả đạt được là việc duy trì và nâng cao chất lượng các hoạt động phối hợp, thực hiện các nghị quyết liên tịch và thực hiện tốt phong trào quần chúng bảo vệ an ninh Tổ quốc mà nổi bật là gắn với hoạt động chi bộ khu phố đã có tác động tích cực trong xây dựng hộ, tổ dân phố tự quản, khu phố văn hoá, góp phần củng cố lực lượng an ninh, lực lượng dân phòng cơ sở.

Trong công tác xây dựng lực lượng, công tác chính trị tư tưởng đã được quan tâm hàng đầu, tiếp tục thực hiện Quyết định 12 của Bộ Công an về học tập 6 điều Bác Hồ dạy Công an Nhân dân, phát động liên tục phong trào thi đua bảo vệ an ninh Tổ quốc (1996 – 1999), lực lượng Công an quận đến cơ sở tiếp tục được củng cố về tư tưởng chính trị, tổ chức, nâng cao trình độ nghiệp vụ phục vụ công tác và chiến đấu đảm bảo hoàn thành nhiệm vụ do Đảng bộ, ngành và nhân dân giao phó trong 5 năm qua.

b. Quốc phòng:

Đã thực hiện mục tiêu xây dựng quận thành khu vực phòng thủ vững chắc góp phần bảo vệ thành phố. Cụ thể trong nhiệm kỳ VII (1996 – 2000) nhiệm vụ sẵn sàng chiến đấu và diễn tập phòng thủ đã được tổ chức ở từng cấp từng ngành. Lực lượng vũ trang quận duy trì thường xuyên xây dựng và triển khai các kế hoạch phòng chống cháy nổ, phòng chống lụt bão… tổ chức chốt chặn và bảo vệ các mục tiêu trọng điểm trên địa bàn quận. Tham mưu tốt trong thực hiện nền quốc phòng an ninh gắn với việc phát triển kinh tế. Triển khai có kết quả kế hoạch công tác đóng quân canh phòng hàng năm.

Công tác quản lý Nhà nước về quốc phòng cũng đã tham mưu tốt cho Đảng bộ, chính quyền trong thực hiện Chỉ thi 58/TTg về việc tăng cường chỉ đạo xâ ydựng cơ sở vững mạnh toàn diện, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ quốc phòng an ninh trong tình hình mới, và tổng kết 5 năm thực hiện Nghị định 19/CP về công tác quốc phòng địa phương. Trong đó đã nêu bật được mối quan hệ phối hợp giữa lực lượng vũ trang và toàn hệ thống chính trị từ quận đến cơ sở trong xây dựng nền quốc phòng toàn dân.

Trong công tác xây dựng lực lượng đã xây dựng nền nếp chính qui, rèn luyện kỷ luật. Đã xây dựng tổng số lực lượng dân quân tự vệ trên địa bàn đạt tỷ lệ 3% so với dân số. Công tác huấn luyện quân sự cho sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, cho BCH Quân sự phường, dân quân tập trung quận, đại đội dân quân chiến đấu cơ động, dân quân binh chủng quận, phường, tự vệ cơ quan xí nghiệp, huấn luyện giáo dục quốc phòng và trang bị kiến thức quốc phòng cho cán bộ chủ chốt quận, phường được tổ chức thường xuyên. Công tác hội thi, hội thao quốc phòng từ quận đến thành phố luôn đạt kết quả cao hàng năm.

Năm năm qua quận luôn thực hiện đúng qui trình gọi thanh niên nhập ngũ, chỉ tiêu giao quân luôn đạt 100%. Công tác tiếp nhận thanh niên hoàn thành nghĩa vụ quân sự, tổ chức đăng ký quân dự bị, tổ chức huấn luyện và giao quân dự bị theo đúng kế hoạch của thành phố và quân khu.

Đảm bảo công tác hậu cần, kỹ thuật cho dự trữ sẵn sàng chiến đấu và đảm bảo thường xuyên. Công tác Đảng, công tác chính trị trong lực lượng vũ trang được đặc biệt quan tâm, trong đó nổi bật là công tác chăm lo các đối tượng chính sách, công tác đền ơn đáp nghĩa và công tác dân vận được lực lượng vũ trang tổ chức thực hiện có kết quả, kết chặt tình đoàn kết quân dân.

4. Hệ thống chính trị được xây dựng củng cố theo hướng đảm bảo giữ vững và phát huy vai trò vị trí:

a. Thực hiện đúng phương châm xây dựng Đảng là then chốt:

Trong nhiệm kỳ VII (1996 – 2000) thấu suốt mục tiêu đổi mới và chỉnh đốn Đảng là “Nhằm nâng cao năng lực và sức chiến đấu của Đảng”. Do đó đối với Đảng bộ quận, công tác xây dựng Đảng thời gian qua cũng chính là nội dung đổi mới và chỉnh đốn Đảng trên cả 3 mặt chính trị, tư tưởng và tổ chức.

* Xây dựng Đảng về tư tưởng chính trị:

Đảng bộ quận đã tổ chức quán triệt mục tiêu yêu cầu của công tác chính trị tư tưởng, một số quan điểm có tính nguyên tắc của Đảng mà mấu chốt là thực hiện nhiệm vụ hàng đầu về công tác chính trị tư tưởng đối với toàn Đảng bộ: giữ vững và tăng cường bản chất giai cấp công nhân của Đảng. Đảng bộ đã quán triệt yêu cầu “Tăng cường sự thống nhất trong Đảng về nhận thức, ý chí và hành động, kiên trì đấu tranh đẩy lùi 4 nguy cơ, đảng viên phải nói và làm theo nghị quyết, thực hiện đúng cương lĩnh, điều lệ Đảng và pháp luật Nhà nước, kiên định những vấn đề thuộc quan điểm có tính định hướng và nguyên tắc của Đảng”.

Trong nhiệm kỳ qua, Đảng bộ quận đã lãnh đạo tổ chức triển khai quán triệt tất cả các nghị quyết, chỉ thị, chương trình hành động của Đảng từ Trung ương Thành ủy, Quận ủy đến các cơ sở Đảng và đảng viên. Trong đó Đảng bộ có nhiều đổi mới về nội dung và biện pháp triển khai các nghị quyết, kế hoạch, chỉ thị có ý nghĩa xây dựng Đảng như: NQTW5 và chương trình hành động thực hiện NQTW5 khóa VIII, Kế hoạch số 01-KH/TW, Kế hoạch 33 – KH/TU và Kế hoạch 15 – KH/QU về sinh hoạt chính trị tự phê bình và phê bình trong Đảng theo tinh thần NQTW5, NQTW6 (lần 2) về một số vấn đề cơ bản và cấp bách trong công tác xây dựng Đảng hiện nay. Đảng bộ quận cũng đã lãnh đạo triển khai quán triệt nghị quyết về thực hiện nhịêm vụ chính trị hàng năm, xây dựng triển khai thực hiện 10 nghị quyết chuyên đề. Tổ chức thông tin tình hình kinh tế xã hội của quận theo định kỳ. Tăng cường công tác nắm bắt dư luận và định hướng dư luận góp phần tích cực ổn định tình hình chung.

Qua triển khai quán triệt các nghị quyết, chủ trương của Đảng đã tạo sự thống nhất về nhận thức và hành động trong hầu hết các cơ sở Đảng và đảng viên. Nâng cao nhận thức trách nhiệm của toàn Đảng bộ về vị trí then chốt của công tác xây dựng Đảng và trong nhiệm vụ lãnh đạo tiến hành thắng lợi công cuộc đổi mới. Qua các đợt sinh hoạt chính trị, xây dựng chỉnh đốn Đảng đã giúp cho hầu hết các cơ sở Đảng và đảng viên thấy rõ tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức lối sống để có ý thức đấu tranh kiên quyết từng bước ngăn chặn đẩy lùi các biểu hiện suy thoái đó, củng cố khối đoàn kết thống nhất trong toàn Đảng bộ trên cơ sở mục tiêu lý tưởng, cương lĩnh chính trị, đường lối đổi mới và điều lệ Đảng.

* Xây dựng Đảng về tổ chức:

Thấu suốt quan điểm: “Tổ chức bộ máy vững mạnh là một nhân tố quyết định cho sự thống nhất ý chí và hành động”. Với tổng số 59 cơ sở Đảng trực thuộc Đdảng bộ quận có 3169 đảng viên đang sinh hoạt tại 16 đảng bộ, 43 chi bộ cơ sở (trong đó có 124 chi bộ khu phố, 12 chi bộ công an trực thuộc Đảng bộ phường). Trong nhiệm kỳ qua công tác xây dựng Đảng về tổ chức đã tập trung trên một số nội dung như:

+ Về công tác cán bộ: Đã hoàn chỉnh công tác quy hoạch đội ngũ cán bộ thuộc diện Quận ủy và Thành ủy quản lý. Thực hiện tiêu chuẩn hoá cán bộ chủ chốt có trình độ chính trị trung, cao cấp, một số đồng chí có trình độ cử nhân chính trị. Về văn hoá đạt trình độ từ tốt nghiệp phổ thông trung học theo đúng nghị quyết đã đề ra. Đến nay phần lớn cán bộ chủ chốt đã được đào tạo trình độ đại học. Thực hiện đúng các quyết định quản lý cán bộ và danh mục quy định các chức danh cán bộ thuộc diện Quận ủy quản lý. Nhiệm kỳ qua Đảng bộ quận đã điều động 79 cán bộ, quyết định bổ nhiệm 68 cán bộ vào các chức danh chủ chốt thuộc diện Quận ủy quản lý.

+ Về công tác đào tạo: Trung học chính trị tại chức: 417 đ/c, trung học chính trị tập trung 8 đ/c, cao cấp chính trị 33 đ/c, đại học hành chính: 5 đ/c, đại học luật 131 đ/c, trung cấp quản lý Nhà nước: 100 đ/c bồi dưỡng chính trị phổ thông (sơ cấp): 117 đ/c. Tổ chức lớp đối tượng phát triển Đảng cho 626 quần chúng ưu tú. Trong 5 năm qua đã kết nạp 231 đảng viên mới.

Đảng bộ quận đã lãnh đạo Tiểu ban công tác cán bộ nữ, tổng kết 5 năm thực hiện Chỉ thị 37/BCT về công tác cán bộ nữ trong các tổ chức cơ sở Đảng trực thuộc. Tỉ lệ cán bộ nữ đạt 32,43% trong tổng số cán bộ chủ chốt của quận.

Đã tổ chức thực hiện nghiêm túc đợt sinh hoạt chính trị tự phê bình trong Đảng theo tinh thần NQTW5, NQTW6 (lần 2) theo đúng tinh thần Kế hoạch 01-KH/TW, Kế hoạch 33-KH/TU, Kế hoạch 15-KH/QU. Kết quả phân tích chất lượng đảng viên. Đảng viên đủ tư cách 2725 (8,30%), đảng viên vi phạm tư cách 48 (1,70%).

+ Công tác xây dựng tổ chức cơ sở Đảng trong sạch vững mạnh: Các loại hình cơ sở Đảng đã từng bước thực hiện đúng quy chế hoạt động, trong đó phải kể đến chất lượng hoạt động khá tốt của các Đảng bộ phường và các chi bộ khu phố đã có nhiều chuyển biến, thể hiện rõ nét vai trò hạt nhân chính trị lãnh đạo ở cơ sở, địa bàn dân cư. Việc phân tích chất lượng cơ sở Đảng được duy trì hàng năm, gắn với việc tổng kết công tác lãnh đạo thực hiện nhiệm vụ chính trị của từng cơ sở, hầu hết các cấp ủy đã giữ nền nếp chủ động tự phân tích đánh giá phân loại, Quận ủy đã duy trì biện pháp khảo sát, kiểm tra, phân tích xét duyệt đúng thực trạng, không vì chỉ tiêu mà xem nhẹ chất lượng cơ sở Đảng trong sạch vững mạnh.

Kết quả phân tích chất lượng cơ sở Đảng trong sạch vững mạnh: 1996: 37/57 (64%), 1999: 43/61 (70%) vượt chỉ tiêu nghị quyết đề ra hàng năm: 60% cơ sở Đảng trong sạch vững mạnh. Năm năm qua đã được Thành ủy công nhận 2 Đảng bộ đạt vững mạnh trong sạch cấp thành phố.

* Công tác kiểm tra Đảng:

Đã được Đảng bộ Quận xác nhận “kiểm tra là một trong những chức năng lãnh đạo của Đảng, một bộ phận quan trọng trong công tác xây dựng Đảng”.

Năm năm qua, công tác kiểm tra thực hiện nhiệm vụ theo điều lệ Đảng quy định đã được các cấp ủy trong Đảng bộ tập trung thực hiện đạt nhiều kết quả: công tác kiểm tra dấu hiệu vi phạm, giải quyết đơn thư tố cáo, chú trọng nâng cao chất lượng khâu kiểm tra xác minh. Coi trọng cơ sở chứng cứ và công tác tư tưởng đối với Đảng viên bị tố cáo, nhờ đó các dấu hiệu vi phạm, nội dung tố cáo được làm rõ. Đã giải tỏa xử lý nhiều trường hợp góp phần đấu tranh ngăn ngừa sai phạm và giáo dục ý thức giữ gìn phẩm chất của đảng viên.

Việc xem xét xử lý kỷ luật và giải quyết khiếu nại kỷ luật cũng đã được thực hiện chặt chẽ, các trường hợp vi phạm đều có kết luận và xử lý nghiêm theo đúng thẩm quyền và trình tự thủ tục quy định (đã xử lý 80 cán bộ đảng viên. Trong đó khiển trách 31 vụ, cảnh cáo 17, cách chức 3, khai trừ 29). Nội dung sai phạm chủ yếu là: cố ý làm trái quy định, chế độ chính sách, thiếu tinh thần trách nhiệm, vi phạm phẩm chất lối sống…

Về công tác kiểm tra tổ chức cơ sở Đảng đã kiểm tra 35/61 cơ sở Đảng, qua kiểm tra đã kịp thời phát hiện 5 chi đảng bộ có dấu hiệu vi phạm chủ trương chính sách của Đảng và pháp luật Nhà nước, kịp thời nhắc nhở 4 đơn vị có thiếu sót về công tác quản lý thực hiện nhiệm vụ. Đã xử lý kỷ luật hình thức khiển trách 1 chi bộ cơ sở vi phạm trong lĩnh vực quản lý điều hành đơn vị.

Đối với nhiệm vụ công tác kiểm tra việc thực hiện các nghị quyết, chỉ thị của Đảng đã được thực hiện từng bước đi vào nề nếp; kiểm tra sơ kết thực hiện các chương trình hành động của Quận ủy thực hiện NQTW2, NQTW4, NQTW5, NQTW6 (lần 2) kiểm tra việc thực hiện các nghị quyết chuyên đề của Đảng bộ quận… Đã góp phần nhằm đưa các nghị quyết chỉ thị, chương trình hành động của Đảng bộ quận thực hiện có kết quả tại cơ sở trong thời gian qua.

* Công tác bảo vệ chính trị nội bộ:

Toàn Đảng bộ đã quán triệt các nghị quyết chỉ thị của Trung ương, thành phố, đặc biệt là qua học tập quán triệt Chỉ thị 39-CT/TW, Nghị quyết 08/BCT về bảo vệ an ninh quốc gia kết hợp với đợt sinh hoạt chính trị tự phê bình và phê bình trong Đảng theo tinh thần NQTW5, NQTW6 (lần 2) và qua thực hiện chương trình công tác bảo vệ chính trị nội bộ hàng năm của Quận ủy, nhìn chung các tổ chức cơ sở Đảng, các cấp ủy Đảng, và hầu hết đội ngũ đảng viên đã nâng cao nhận thức về âm mưu thủ đoạn của địch và ý thức xây dựng bảo vệ Đảng, bảo vệ tổ chức cán bộ, đã được nâng lên trong toàn Đảng bộ. Công tác bảo vệ chính trị nội bộ cũng đã tham mưu cho Đảng bộ quận trong việc quy hoạch, bố trí, đề bạt, đảm bảo các yêu cầu phân cấp quản lý cán bộ và phục vụ tốt cho công tác phát triển đảng viên mới trong nhiệm kỳ qua.

b. Xây dựng chính quyền của dân, do dân và vì dân:

Kết quả đạt được đối với công tác xây dựng chính quyền là căn cứ và quy chế hoạt động của BCH Đảng bộ quận nhiệm kỳ VII (1996 – 2000) Quận ủy đã tăng cường mối quan hệ lãnh đạo, giữa Đảng bộ - HĐND – UBND quận. Nội dung và phương thức lãnh đạo của Đảng bộ quận đối với HĐND và UBND quận có nhiều đổi mới, góp phần nâng cao vai trò của bộ máy chính quyền trong thực hiện các nghị quyết, chương trình hành động của Quận ủy và các chủ trương, chỉ thị của cấp trên đạt chất lượng hiệu quả hơn trong thời gian qua. Đã lãnh đạo thắng lợi cuộc bầu cử HĐND – UBND quận, phường nhiệm kỳ (1999 – 2004).

Hoạt động của HĐND quận, phường đã thực hiện theo luật và quy chế tổ chức hoạt động, thể hiện được vai trò chức năng của HĐND là cơ quan quyền lực Nhà nước ở địa phương, đại diện cho ý chí nguyện vọng và quyền làm chủ của nhân dân. Đã tổ chức thực hiện các hoạt động giám sát của HĐND trên các lĩnh vực như: thực hiện Nghị quyết HĐND, việc chấp hành, tuân theo pháp luật trên địa bàn quận. Hầu hết đại biểu HĐND phát huy được vai trò vị trí của mình, liên hệ chặt chẽ với cử tri đề cao trách nhiệm, phản ảnh kịp thời những ý kiến của cử tri, nhiều vấn đề bức xúc về đời sống kinh tế được đưa vào nghị quyết HĐND góp phần tác động các cơ quan chức năng, chính quyền giải quyết nhanh chóng có kết quả những kiến nghị chính đáng của cử tri.

Công tác cải cách một bước nền hành chính trên địa bàn quận đã có nhiều tiến bộ, việc thực hiện cơ chế “một cửa một dấu”. Sắp xếp tập trung các phòng ban về trung tâm hành chính quận, thực hiện quy chế tiếp dân, quy chế giải quyết các hồ sơ hành chính có liên quan đến công dân đã có chuyển biến. Các phòng ban chuyên môn ngày càng thể hiện rõ hơn chức năng tham mưu, góp phần giúp cho công tác quản lý hành chính Nhà nước của UBND quận trên từng lĩnh vực phát triển kinh tế, quản lý ngân sách, quản lý văn hoá, xã hội, bảo vệ trật tự xã hội ngày càng tập trung sát thực tế, đúng pháp luật.

Việc triển khai các Pháp lệnh cán bộ công chức, Pháp lệnh thực hành tiết kiệm, Pháp lệnh chống tham nhũng và thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở đã góp phần nâng cao nhận thức, tinh thần phục vụ, công tác của đội ngũ cán bộ công chức khối chính quyền từ quận đến phường.

Đối với hoạt động tư pháp, bảo vệ pháp luật: các ngành tư pháp, tòa án, thanh tra, viện kiểm sát trong thời gian qua đã hoạt động có hiệu quả cụ thể như: ngành tư pháp đã thực hiện rõ nét vai trò tham mưu soạn thảo văn bản, xử lý hành chính, tư vấn pháp luật, tuyên truyền phổ biến pháp luật, công tác hộ tịch, công chứng, thi hành án… Tòa án quận đã đẩy nhanh tốc độ giải quyết các loại án, đưa ra xét xử đúng hạn định, đúng đối tượng và đúng thủ tục tố tụng. Ngành thanh tra đã thực hiện công tác thanh tra chuyên trách công tác giải quyết khiếu nại tố cáo của công dân đạt tỉ lệ cao hàng năm. Hoạt động kiểm sát hình sự, kiểm sát xét xử dân sự, lao động, kinh tế, giải quyết khiếu tố, kiểm sát thi hành án được Viện Kiểm sát Nhân dân thực hiện đúng nhiệm vụ kiểm sát, việc tuân theo pháp luật và thực hiện quyền công tố trong phạm vi thẩm quyền do luật định.

c. Công tác vận động quần chúng:

Trong nhiệm kỳ VII (1996 – 2000) thực hiện nhiệm vụ cơ bản của công tác vận động quần chúng đến năm 2000 là: “Tiếp tục thực hiện Nghị quyết Trung ương 8B (khóa VI) về đổi mới công tác vận động quần chúng, đảm bảo cho toàn thể cán bộ đảng viên nhận thức sâu sắc công tác vận động quần chúng là nhiệm vụ của toàn Đảng bộ. Phân công cấp ủy, cán bộ đảng viên có năng lực phẩm chất tốt để làm công tác dân vận”.

Nhiệm vụ cơ bản trên đã được cụ thể hoá vào chương trình, nghị quyết công tác vận động quần chúng hàng năm. Đảng bộ quận cũng đã xây dựng các nghị quyết chuyên đề về công tác thanh niên, phụ nữ, xây dựng giai cấp công nhân, hoạt động tổ chức công đoàn ngoài quốc doanh, thường xuyên quan tâm chỉ đạo kiện toàn tổ chức và nâng cao chất lượng hoạt động của hệ thống chính trị từ quận đến cơ sở phường, khu phố, tổ dân phố. Nâng vị trí lãnh đạo của chi bộ khu phố đối với công tác vận động quần chúng ở địa bàn dân cư. Nâng cao ý thức trách nhiệm của các cấp ủy, các tổ chức cơ sở Đảng và đảng viên về công tác vận động quần chúng (có 739 đảng viên được phân công trực tiếp làm công tác dân vận, 297 đảng viên làm tổ trưởng dân phố).

Hoạt động của chính quyền từ quận đến phường cũng đã có nhiều chuyển biến tốt trong nhiệm kỳ qua. Nhiều chương trình đề án quy hoạch phát triển cơ sở hạ tầng, kế hoạch phát triển kinh tế xã hội, bảo vệ an ninh quốc phòng, thực thi pháp luật đã thực hiện đúng phương châm “dân biết – dân bàn – dân làm – dân kiểm tra”. Mối quan hệ phối hợp giữa chính quyền – dân vận – Mặt trận Tổ quốc các đoàn thể đã tạo sự thống nhất trong vận động các tầng lớp, các giới thực hiện những nhiệm vụ kinh tế - xã hội ở địa phương. Việc thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở phường, khu phố, trong các doanh nghiệp và trong các cơ quan đơn vị trực thuộc đã được triển khai và phát huy được hiệu lực tăng cường dân chủ ở cơ sở.

Kết quả hoạt động của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể:

* Ủy ban Mặt trận Tổ quốc quận:

Trong hoạt động luôn đảm bảo nguyên tắc: Hiệp thương, dân chủ, hợp tác, bình đẳng, đoàn kết chân thành, tôn trọng lẫn nhau, phối hợp và thống nhất hành động giữa các thành viên; trong 5 năm qua MTTQ quận đã tăng cường củng cố và mở rộng khối đại đoàn kết dân tộc, thực hiện khá tốt vai trò đầu mối phối hợp hành động, tuyên truyền vận động các tầng lớp nhân dân, các hội quần chúng, các tôn giáo, dân tộc chấp hành và thực hiện tốt các chủ trương của Đảng, pháp luật của Nhà nước gắn với việc phát động và thực hiện các phong trào thi đua XHCN vì mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng văn minh” thông qua các hoạt động chăm lo đời sống diện chính sách, hộ nghèo, nòng cốt vận động xây dựng nhà tình thương, thực hiện tốt chính sách hậu phương quân đội và các hoạt động xã hội nhân đạo từ thiện khác, thực hiện tốt vai trò nòng cốt Mặt trận tham gia xây dựng chính quyền chủ trì trong cuộc vận động: “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá; đời sống mới ở khu dân cư”.

* Hoạt động Đoàn và Thanh thiếu niên quận:

Thực hiện có hiệu quả 2 phong trào lớn “ Thanh niên lập nghiệp”,  “Tuổi trẻ giữ nước”, 8 chương trình công tác của Đoàn, 5 cuộc vận động của Hội LHTN, tập trung tuyên truyền giáo dục truyền thống, nâng cao nhận thức lý tưởng cộng sản, rèn luyện phẩm chất gắn với các cuộc vận động xây dựng khu phố “an toàn, sạch đẹp, văn minh, nghĩa tình”, phong trào rèn luyện “lương tâm chức nghiệp”, phong trào CKT (khu vực công nhân lao động), phong trào giành đỉnh cao 3 quyết thắng (trong lực lượng quân sự)… chăm lo, tạo điều kiện góp phần giải quyết việc làm, đời sống cho thanh niên phát triển kinh tế gia đình, học nghề với phong trào 3 giúp (giúp nghề, giúp vốn, giúp kinh nghiệm”, 5 năm qua đã trợ giúp 2858 đoàn viên, hội viên, với số vốn 9,6 tỉ đồng. Tổ chức Hội LHTN ngày càng lớn mạnh, mở rộng mặt trận đoàn kết tập hợp thanh niên, đến nay đã có 12/12 phường có tổ chức hội, 67 chi hội, với tổng số 4675 hội viên; 110 chi đoàn khu phố với 4691 đoàn viên.

Hoạt động Đội Thiếu niên Tiền phong Hồ Chí Minh ở nhà trường được duy trì và phát triển mạnh trong 5 năm qua đạt nhiều thành tích đáng kể, hoạt động Đội ở địa bàn dân cư cũng được hình thành từ năm 1997 đến nay, hoạt động đang dần ổn định và có chiều hướng phát triển tốt.

* Hội Liên hiệp Phụ nữ:

Đã tích cực thực hiện thắng lợi 2 phong trào, 5 chương trình công tác của hội, có nhiều hoạt động phong phú đa dạng, thiết thực thu hút quần chúng phụ nữ đến với hội, với chương trình “giúp nhau phát triển kinh tế gia đình”, xây dựng gia đình văn hoá, hạn chế trẻ suy dinh dưỡng trẻ bỏ học. Hình thức nội dung tuyên truyền – giáo dục phù hợp nâng cao nhận thức chính trị, kiến thức xã hội, chăm lo sức khỏe, xây dựng gia đình ấm no, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc, hoạt động Hội càng đi vào chiều sâu, hiệu quả. Hội viên phụ nữ ngày càng khẳng định vai trò trong xã hội, chủ động phấn đấu cho sự tiến bộ và bình đẳng của giới. Năm năm qua đã trợ vốn cho 8318 phụ nữ với số tiền 17,6 tỉ đồng.

Là tổ chức có đông hội viên nhất 17.535 hội viên, hệ thống tổ chức cơ sở từ phường đến khu phố, tổ dân phố khá nề nếp, hoạt động đạt hiệu quả cao, góp phần quan trọng trong thực hiện nhiệm vụ chính trị tại địa phương, nổi bật nhất trong lĩnh vực đời sống, xã hội.

* Liên đoàn Lao động quận:

Theo hướng chuyển dịch cơ cấu kinh tế của quận, LĐLĐ quận đã có nhiều biện pháp vận động, tổ chức nhiều hoạt động và phong trào thi đua, nâng cao chất lượng trong đội ngũ giai cấp công nhân lao động, tạo động lực thúc đẩy thi đua phát triển kinh tế, xây dựng giai cấp công nhân ngày càng vững mạnh, nhất là tập trung khu vực kinh tế ngoài quốc doanh theo Nghị quyết 16-NQ/QU của quận đề ra. Nhiều hoạt động khá phong phú và mang lại nhiều hiệu quả như: chương trình trợ vốn cho công nhân lao động nghèo qua quỹ CEP, với số vốn 19,5 tỉ đồng. Năm năm qua đã trợ vốn cho 9016 lượt công nhân lao động góp phần ổn định và nâng cao đời sống; hàng năm đều mở các cuộc hội thi tay nghề, thợ giỏi, cán bộ công đoàn giỏi, tuyên dương công nhân viên chức lao động giỏi; thông qua các hoạt động đã phát triển 8518 đoàn viên nâng tổng số đoàn viên toàn quận 12.247, xây dựng củng cố 100% công đoàn cơ quan Nhà nước (108/108 cơ sở) và 100% công đoàn ngoài quốc doanh (103/103 cơ sở).

* Hội Nông dân quận:

Có nhiều chuyên đề nghiên cứu, hướng dẫn nông dân xây dựng và phát triển mô hình “kinh tế vườn” theo cơ cấu kinh tế của quận; tuy chỉ còn 6 phường nông nghiệp nhưng nhờ có nhiều biện pháp khoa học kỹ thuật vào sản xuất ở 2 lĩnh vựcc nuôi, trồng, chuyển đổi vật nuôi, cây trồng có giá trị kinh tế cao phù hợp với điều kiện phát triển đô thị hoá của quận. Với phong trào thi đua nông dân sản xuất giỏi, nông dân đua tài; vận dụng nhiều nguồn vốn từ các ngân hàng, tự vận động đã trợ vốn cho 2072 lượt hộ nông dân phát triển sản xuất với số tiền 19,5 tỉ đồng, đã góp phần nâng cao mức đời sống vật chất tinh thần trong nhân dân. Đến nay đã phát triển 1944 hội viên nâng tổng số hội viên toàn quận là 2054. Kiện toàn tổ chức hội ở khu dân cư và các tổ hội ngành nghề.

* Hội Cựu Chiến binh quận:

Luôn giữ vững và phát huy bản chất truyền thống “Bộ đội Cụ Hồ”, là lực lượng nòng cốt trong phong trào vận động quần chúng, giáo dục truyền thống cho thế hệ trẻ, nòng cốt trong liên tịch với Công an, Quân sự, Đoàn TNCS trong vận động tuyển quân hàng năm, giữ vững an ninh chính trị, trật tự xã hội trên địa bàn; góp phần ngăn chặn phát hiện phòng chống có hiệu quả tệ nạn xã hội, các loại tội phạm, âm mưu “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch; công tác xã hội, tích cực khơi nhiều nguồn vốn để hỗ trợ hội viên cựu chiến binh khó khăn phát triển kinh tế gia đình.

Kiện toàn hệ thống chi hội khu phố, đã phát triển từ 1221 hội viên lên 2183 hội viên, hệ thống chi hội khu phố được kiện toàn và xây dựng một số cơ sở hội ở cơ quan có đông cựu chiến binh; là lực lượng chính trị tin cậy của Đảng, đã phát huy tốt bản chất và truyền thống cách mạng. Có 903 hội viên đảm nhiệm 1487 chức danh công tác Đảng, HĐND, khu phố, tổ dân phố, BCH các đoàn thể, đã thể hiện cao vai trò trách nhiệm trong mọi hoạt động với tính tổ chức, kỷ luật cao, luôn hoàn thành tốt nhiệm vụ.

* Hội Chữ Thập đỏ quận:

Các hoạt động xã hội nhân đạo từ thiện chăm sóc sức khỏe cộng đồng của Hội đã góp phần đáng kể vào việc thực hiện chính sách xã hội tại quận; 5 năm qua Hội đã tích cực chủ động phối hợp với các đoàn thể, các tổ chức tôn giáo, các ngành tổ chức khám bệnh, phát thuốc miễn phí; cứu giúp người hoạn nạn, người già neo đơn, đặc biệt chăm lo đỡ đầu diện chính sách, nạn nhân chất độc màu da cam, hộ nghèo khó, vận động hiến máu nhân đạo. Hội có nhiều hoạt động tham gia phòng chống tệ nạn xã hội, xây dựng đề án cai nghiện ma túy tại cộng đồng bằng đông y. Mạng lưới tổ chức Hội mở rộng ở các địa bàn: dân cư, trường học, cơ quan, doanh nghiệp trong và ngoài quốc doanh, lực lượng hội viên khá đông ở mọi lứa tuổi: tổng số hội viên so năm 1996: tăng 5 lần với 12.389 hội viên.

II. NHỮNG TỒN TẠI YẾU KÉM:

Căn cứ vào thực tế những kết quả đạt được trên từng lĩnh vực, soi rọi với phương hướng nhiệm vụ, những mục tiêu tổng quát và các nội dung chỉ tiêu lớn mà Nghị quyết Đại hội Đại biểu Đảng bộ quận lần thứ VII (1996 – 2000) đã đề ra, Đảng bộ quận nghiêm túc đánh giá vẫn còn những tồn tại yếu kém trên từng lĩnh vực như sau:

1. Về kinh tế:

- Nền kinh tế phát triển thiếu đồng bộ: thể hiện về cơ cấu kinh tế và sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế những năm qua trên đia bàn quận tập trung phát triển sản xuất công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp, thương mại, dịch vụ tạo giá trị, tỉ trọng cao trong cơ cấu kinh tế nhưng các khu vực: “Du lịch và kinh tế vườn” đạt tỉ trọng giá trị thấp, chậm có giải pháp lãnh đạo, quản lý, phù hợp với cơ cấu kinh tế chung của quận.

- Các thành phần kinh tế phát triển có qui mô vừa và nhỏ là phù hợp với thực tế quận, nhưng chưa cân đối trong các thành phần kinh tế. Thành phần kinh tế ngoài quốc doanh chiếm tỉ trọng cao trong cơ cấu giá trị chung, trong khi đó thành phần kinh tế hợp tác xã, thành phần kinh tế ngoài quốc doanh (kể cả sản xuất, thương mại, dịch vụ) nhiều yếu kém, tỉ trọng, hiệu quả sản xuất kinh doanh thấp, có đơn vị thua lỗ, giải thể.

- Công nghiệp hoá, hiện đại hoá sản xuất công nghiệp nhiều ngành kinh tế có giá trị sản phẩm cao chưa theo kịp yêu cầu đổi mới công nghệ làm tăng sản phẩm cạnh tranh, phục vụ xuất khẩu, chưa đạt kết quả trong định hướng phát triển sản xuất công nghiệp sạch.

- Trong thực hiện các đề án phát triển cơ sở hạ tầng do quận còn là cấp dự toán ngân sách, tích lũy từ điều tiết thấp chủ yếu còn nhận trợ cấp ngân sách thành phố đầu tư cơ sở hạ tầng nên việc triển khai các dự án luôn phải chờ cấp vốn xây dựng, nhiều công trình thực hiện kéo dài, chuyển tiếp. Chưa huy động tiềm lực xã hội hoá trong xây dựng phát triển cơ sở hạ tầng. Cơ sở vật chất phục vụ đời sống văn hoá, thể dục thể thao đạt tỉ lệ thấp trong cơ cấu đầu tư xây dựng trong 5 năm qua.

- Công tác quản lý đô thị còn nhiều thiếu sót và yếu kém: Tình trạng xây dựng chưa có phép, lấn chiếm đất công, kênh rạch, tình trạng phát sinh về ô nhiễm môi trường (nước, tiếng ồn, không khí), trật tự mỹ quan đô thị còn nhiều yếu tố tự phát ảnh hưởng lớn đến quy hoạch chung.

2. Văn hoá – xã hội:

Đối với lĩnh vực đời sống việc làm, xóa đói giảm nghèo, trợ vốn luôn bị áp lực dân số cơ học tăng nhanh, số hộ nghèo luôn phát sinh, chất lượng đào tạo nghề, phần lớn đội ngũ lao động kỹ thuật thấp (2/7 – 3/7) chưa đáp ứng nhu cầu tuyển dụng lao động vào các ngành kinh tế kỹ thuật công nghệ tiên tiến, chưa gắn giữa dạy nghề với giải quyết việc làm.

Cũng từ thực trạng dân số cơ học tăng nhanh nên thời gian qua quận luôn đứng trước mâu thuẫn giữa việc giữ vững nâng cao chất lượng giáo dục với điều kiện đầu tư xây dựng phát triển trường lớp. Đa dạng hoá các loại hình trường lớp là một chủ trương đúng đắn, nhưng trong tổ chức và quản lý còn hạn chế. Các cơ sở vật chất văn hoá, thể dục thể thao chậm được đầu tư xây dựng từ nguồn ngân sách trong khi đó thời gian qua chậm có biện pháp đẩy mạnh phát triển xã hội hóa trong lĩnh vực văn hóa, thể dục thể thao.

Môi trường xã hội đang có nhiều biểu hiện thiếu lành mạnh. Một số tệ nạn xã hội nghiêm trọng: ma túy, mại dâm đang diễn biến phức tạp nhưng quận chưa có giải pháp đồng bộ để khắc phục có hiệu quả.

3. Về an ninh quốc phòng:

Tồn tại về công tác an ninh quốc phòng là vẫn còn tình trạng chủ quan mất cảnh giác trong một bộ phận cơ quan đơn vị và trong quần chúng nhân dân về phòng chống “âm mưu diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch trên các lĩnh vực bảo vệ cơ quan, bảo vệ bí mật nội bộ, kinh tế, an ninh văn hoá, trật tự và an toàn xã hội.

Phong trào xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân, phong trào quần chúng bảo vệ an ninh Tổ quốc phát triển chiều rộng nhưng công tác phối hợp giữa các cơ quan chức năng và các tổ chức chính trị xã hội trên địa bàn dân cư chưa đáp ứng yêu cầu chất lượng của phong trào.

4. Hệ thống chính trị:

-  Công tác xây dựng Đảng tuy có nhiều chuyển biến tích cực nhưng vẫn chưa ngang tầm nhiệm vụ đổi mới xây dựng Đảng trong tình hình hiện nay: việc triển khai nghị quyết, chỉ thị của Đảng chưa được tiến hành nghiêm túc ở một số cơ sở Đảng, chậm sơ kết những điển hình việc làm tốt ở các lĩnh vực hoạt động, chậm có hình thức, biện pháp phê phán hiện tượng một số ít đảng viên thiếu gương mẫu trong sinh hoạt, sa sút ý chí, thiếu tinh thần trách nhiệm… Công tác tổ chức chưa tập trung đúng mức đối với việc củng cố các cơ sở Đảng yếu kém nhiều năm liền. Công tác đào tạo bồi dưỡng cán bộ chưa đáp ứng kịp yêu cầu nhiệm vụ. Chưa đạt chỉ tiêu phát triển đảng viên mới theo nghị quyết đề ra (mỗi năm 80 đảng viên mới). Công tác kiểm tra tổ chức cơ sở Đảng và công tác nhận giải quyết đơn thư tố cáo chưa đáp ứng kịp yêu cầu. Hoạt động công tác kiểm tra từ quận đến cơ sở có lúc chưa tập trung, nên chưa thực hiện hết vai trò tham mưu cho cấp ủy trong công tác kiểm tra của Đảng.

- Hiệu quả quản lý hành chính Nhà nước còn một số hạn chế: chương trình cải cách hành chính, thực hiện quy chế một cửa một dấu chậm được sơ kết rút kinh nghiệm, chất lượng đội ngũ cán bộ công chức viên chức vẫn còn một số hạn chế về năng lực, tinh thần thái độ đối với nhiệm vụ công vụ được giao. Trên lĩnh vực quản lý hành chính kinh tế, quản lý xã hội, vai trò của chính quyền (quận - phường) thể hiện chưa đúng mức, thiếu biện pháp tổ chức thực hiện những kế hoạch quản lý lâu dài, còn nặng giải quyết sự vụ hành chính, giải quyết hậu quả phát sinh trong quản lý kinh tế - xã hội.

- Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể phát động nhiều phong trào vận động quần chúng trên địa bàn dân cư nhưng chưa khai thác có hiệu quả thế mạnh của sức dân, của các nguồn lực xã hội (tri thức, nguồn vốn) vào nhiệm vụ phát triển kinh tế xã hội. Chưa phối hợp đồng bộ vận động quần chúng tham gia giữ gìn quản lý đô thị, và bằng sức mạnh cộng đồng để ngăn chặn đẩy lùi một số tệ nạn xã hội nghiêm trọng. Công tác xây dựng lực lượng chính trị nòng cốt các đoàn thể ở cơ sở chưa đạt yêu cầu.

III. NGUYÊN NHÂN BÀI HỌC THỰC TIỄN:

A. NGUYÊN NHÂN CỦA NHỮNG THÀNH TỰU:

1. Đảng bộ Quận đã vận dụng một cách sáng tạo đường lối đổi mới của Đảng, đã đề ra những giải pháp lãnh đạo thực hiện nhất quán quan điểm chỉ đạo xuyên suốt của Đảng bộ quận là “Phát triển kinh tế là trung tâm, xây dựng Đảng là then chốt, xây dựng cơ sở hạ tầng là đòn bẩy, thực hiện các chương trình chính sách xã hội là động lực nhằm tiếp tục tăng tốc toàn diện trên tất cả các lĩnh vực” giữ vững và phát huy truyền thống đoàn kết nhất tí, thống nhất nhận thức và hành động trong phát huy tiềm năng thế mạnh của quận là nhân tố quyết định cho việc hoàn thành thắng lợi Nghị quyết Đại hội Đảng bộ Quận lần VII (1996 – 2000).

2. Trong phương thức lãnh đạo luôn coi trọng việc thực hiện quy chế hoạt động của BCH Đảng bộ quận và quy chế hoạt động các loại hình cơ sở Đảng, quan tâm công tác tổ chức cán bộ, phát huy chức trách của tập thể và cá nhân. Đổi mới cách xây dựng các nghị quyết chuyên đề, tăng cường công tác kiểm tra, sơ kết, tổng kết. Nội dung lãnh đạo hướng mạnh về cơ sở: phường, ngành, khu phố, địa bàn dân cư.

3. Một trong những nguyên nhân của những thành tựu là Đảng bộ quận đã kiên trì vận động sức mạnh tổng hợp của toàn hệ thống chính trị và của nhân dân trong việc giữ vững ổn định an ninh quốc phòng, an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội là yếu tố đảm bảo cho kinh tế xã hội phát triển.

4. Tăng cường dân chủ cơ sở, làm tốt công tác dân vận của Đảng, chăm lo thiết thực đến đời sống vật chất tinh thần nhân dân, bồi dưỡng phát triển nhân tố tích cực từ các phong trào hành động cách mạng, thực hiện tốt phương châm “Đảng vì dân – Dân tin Đảng”.

B. NGUYÊN NHÂN CỦA NHỮNG TỒN TẠI THIẾU SÓT:

1. Trong lãnh đạo phát triển kinh tế đã quán triệt nhiều quan điểm, mục tiêu, nhiều nghị quyết chuyên đề thể hiện sự quyết tâm cao nhưng trong lãnh đạo tổ chức thực hiện còn thiếu những biện pháp mạnh, chưa khai thác có hiệu quả những nguồn lực (vốn, chất xám, lao động) để đẩy mạnh phát triển kinh tế. Đối với công tác tổ chức cán bộ chưa đáp ứng cho yêu cầu quy hoạch, chưa xây dựng được chiến lược cán bộ lâu dài.

2. Hiệu quả quản lý hành chính Nhà nước từ quận đến cơ sở còn một số hạn chế, tính pháp chế XHCN chưa nghiêm, công tác giáo dục ý thức tuân thủ pháp luật trong đội ngũ cán bộ công chức chưa khắc phục nhanh những hạn chế trong phục vụ dân, thực thi công vụ.

3. Công tác vận động quần chúng đã từng bước hướng vào nội dung tập trung cho cơ sở nhưng phương thức hoạt động chưa khắc phục được bệnh hình thức trong việc phát động các phong trào, còn không ít quần chúng chưa quan tâm đến giới, đoàn thể mình, lực lượng chính trị nòng cốt của các đoàn thể chưa xây dựng đạt đúng nội dung yêu cầu.

4. Nguyên nhân khách quan của tồn tại thiếu sót là nhiều cơ chế chính sách mang lại tính động lực thời gian qua có nhiều thay đổi (lúc quản lý tập trung, lúc dồn về cơ sở). Có lĩnh vực đang làm thí điểm: thực hiện cải cách, cải tiến thủ tục hành chánh, một cửa một dấu, cộng vào đó nền sản xuất của quận, xuất phát điểm thấp, cơ sở hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội còn phải tiếp tục đầu tư một cách lâu dài, trong khi quận vẫn là cấp dự toán ngân sách thành phố hàng năm là một trong những nguyên nhân tồn tại thiếu sót đối với sự lãnh đạo điều hành của Đảng bộ, chính quyền quận trong nhiệm kỳ qua.

*

*      *

Đại hội Đảng toàn quốc lần IX được tổ chức vào đầu thế kỷ 21 có ý nghĩa chính trị, lịch sử trọng đại đối với dân tộc Việt . Đây là Đại hội nắm chắc thời cơ lớn, vượt qua các nguy cơ, thách thức lớn, “Phát huy sức mạnh toàn dân tộc, tiếp tục đổi mới, đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp lớn, hiện đại hoá đất nước, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt XHCN”.

Với quan điểm tư tưởng chủ động tiến công, nắm vững thời cơ thuận lợi và vượt qua khó khăn thử thách, Đảng bộ quận xác định phương hướng MỤC TIÊU TỔNG QUÁT trong nhiệm kỳ (2000 – 2005) là:

“Tiếp tục đổi mới, phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, khai thác các nguồn lực giữ vững tốc độ tăng trưởng kinh tế, chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng “Công nghiệp – thương mại - dịch vụ”. Đẩy mạnh xây dựng cơ sở vật chất, hạ tầng kỹ thuật, xã hội. Thực hiện các chính sách xã hội phù hợp với tăng trưởng kinh tế, xây dựng nền quốc phòng an ninh vững chắc, giữ vững ổn định chính trị trật tự an toàn xã hội; tăng cường hiệu lực quản lý chính quyền, phát huy quyền làm chủ ở cơ sở. Xây dựng Đảng bộ trong sạch vững mạnh ngang tầm với thời kỳ đổi mới, công nghiệp hoá, hiện đại hoá”.

PHẦN THỨ HAI
NHIỆM VỤ XÂY DỰNG – PHÁT TRIỂN VÀ BẢO VỆ QUẬN
TRONG NHIỆM KỲ TỚI (2000 – 2005)

MỤC TIÊU VÀ NHỮNG NHIỆM VỤ CỤ THỂ

I. TRÊN LĨNH VỰC KINH TẾ:

A. MỤC TIÊU:

“Tiếp tục đổi mới phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa giữ vững tốc độ tăng trưởng kinh tế 12%/năm. Chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng “công nghiệp, thương mại, dịch vụ” khai thác các nguồn lực phục vụ công nghiệp hóa, hiện đại hoá nền kinh tế trong thời kỳ 2000 – 2005”.

B. CÁC NHIỆM VỤ CHỈ TIÊU CỤ THỂ:

1. Sản xuất công nghiệp:

Tiếp tục thực hiện nghị quyết công nghiệp hoá hiện đại hoá sản xuất công nghiệp Quận Gò Vấp (1997 – 2010). Đồng thời với việc: tiếp tục khuyến khích các thành phần kinh tế đầu tư phát triển sản xuất, tạo điều kiện phát triển sản xuất công nghiệp điện tử từ lắp ráp sang sản xuất linh kiện và phụ kiện. Khuyến khích ứng dụng công nghệ phần mềm, chú trọng cho sản phẩm xuất khẩu.

Ưu tiên phát triển công nghiệp sạch, di dời một số cơ sở sản xuất trong khu vực dân cư, thực hiện quy hoạch chi tiết điều chỉnh quy hoạch khu sản xuất công nghiệp tập trung phường 12, tạo điều kiện về vốn, cơ sở hạ tầng, đổi mới công nghệ, một số ngành sản xuất tạo giá trị hàng hóa xuất khẩu cao. Giá trị sản xuất công nghiệp tăng bình quân 15%.năm.

2. Sản xuất nông nghiệp:

Trong những năm tới, tốc độ phát triển đô thị hoá còn tiếp tục tăng, diện tích đất nông nghiệp có xu thế ngày càng giảm. Do vậy, nhiệm vụ trọng tâm của sản xuất nông nghiệp là tập trung chuyển đổi cơ cấu cây trồng vật nuôi từ sản xuất thương phẩm trở thành vùng cung cấp giống, tăng giá trị thu nhập. Với một số chỉ tiêu nhiệm vụ chủ yếu: xây dựng trung tâm hoa kiểng tại phường 11 (4,7 ha) trở thành trung tâm trưng bày cung cấp giống hoa kiểng. Hình thành các cửa hàng thương mại dịch vụ phục vụ nông nghiệp ở các phường 11, 12, 16, trở thành trung tâm giao dịch, trao đổi mua bán các sản phẩm nông nghiệp. Xây dựng quỹ trợ vốn nông dân, các dự án giải quyết việc làm, nâng đời sống, mức sống vùng nông nghiệp.

3. Thương mại - dịch vụ:

Thực hiện quy hoạch mạng lưới các khu thương mại dịch vụ các khu vực trung tâm, các tuyến đường lớn trong quận, hoạt động kinh doanh tổng hợp kết hợp giữa bán buôn và bán lẻ. Xây dựng mới khu dân cư – thương mại Hạnh Thông Tây (phường 11). Xây dựng trung tâm thương mại, siêu thị tại khu vực Ngã 6 Gò Vấp. Quy hoạch, phát triển cân đối loại hình thương mại dịch vụ phục vụ cho sản xuất, đời sống. Tổng mức luân chuyển hàng hoá hàng năm tăng bình quân 15%.

4. Xây dựng cơ sở vật chất hạ tầng:

Thực hiện các đề án qui hoạch xây dựng cơ sở hạ tầng và phúc lợi công cộng theo quyết định của thành phố phê duyệt điều chỉnh quy hoạch chung của quận đến năm 2020. Thực hiện quy hoạch mở rộng lộ giới một số tuyến đường chính trong quận, hoàn thành chi tiết các phường và lộ giới hẻm dưới 12 mét. Triển khai các quy hoạch, kế hoạch về cấp điện, hạ thế điện, chiếu sáng công cộng, thông tin liên lạc, hệ thống cấp thoát nước…

Tăng tỉ trọng cơ cấu đầu tư cơ sở vật chất hạ tầng phục vụ cho nhu cầu văn hóa tinh thần trong nhân dân. Lập lại trật tự trong xây dựng, khắc phục tình trạng ô nhiễm môi trường, nhất là đối với các dự án phát triển sản xuất và kinh doanh dịch vụ.

Trong nhiệm kỳ VIII (2000 – 2005) tập trung triển khai, tổ chức thực hiện 10 công trình:

  1. Công viên Văn hoá Gò Vấp.
  2. Khu sản xuất công nghiệp tập trung tại phường 12.
  3. Trung tâm Thương mại Ngã 6 Gò Vấp.
  4. Tuyến đê bao sông Vàm Thuật.
  5. Đường: Quang Trung, Nguyễn Thái Sơn, Nguyễn Văn Lượng (mở rộng).
  6. Xi măng hoá, nhựa hoá đường hẻm các phường:

+ 90% - 100%: 6 phường 1, 3, 4, 5, 7 và 10.

+ 50% 60%: 6 phường 11, 12, 13, 15, 16, 17.

  1. Ba trường phổ thông đạt tiêu chuẩn quốc gia.
  2. Trung tâm: TDTT, văn hoá (xây dựng, mở rộng).
  3. Nhà Thiếu nhi quận.
  4. Cụm dân cư mới (phường 15 - phường 17).

II. VỀ VĂN HOÁ XÃ HỘI:

A. MỤC TIÊU:

“Tiếp tục thực hiện tăng trưởng kinh tế phải đi đôi với giải quyết tốt các vấn đề xã hội, đảm bảo việc làm, nâng cao đời sống vật chất – tinh thần trong nhân dân, xây dựng con người mới, xây dựng nền văn hoá tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc”.

B. CÁC NHIỆM VỤ - CHỈ TIÊU CỤ THỂ:

1. Về dân số - việc làm:

Với tổng số dân toàn quận tính đến năm 2000 đã trên 320 ngàn dân. Dự ước tính đến năm 2005 tổng số dân quận sẽ tăng lên đến khoảng 400 ngàn dân. Do đó phải tiếp tục phấn đấu giảm tỉ lệ tăng dân số tự nhiên đến năm 2005 còn 1,1%. Chỉ tiêu giải quyết việc làm hàng năm: 12.000 lao động. Về xóa đói giảm nghèo đến cuối nhiệm kỳ tỉ lệ hộ nghèo còn dưới 2% tổng số hộ dân.

2. Chính sách xã hội:

Thực hiện tốt việc chăm lo đời sống vật chất tinh thần của gia đình chính sách. Tập trung phát động xây dựng nhà tình thương, chống dột, trợ giúp các gia đình neo đơn, dân nghèo khó khăn. Kết hợp biện pháp: tuyên truyền vận động và xử lý nghiêm các tệ nạn xã hội nghiêm trọng. Thường xuyên phối hợp toàn hệ thống, cộng đồng, gia đình, trường học trong phòng chống các tệ nạn xã hội. Đẩy mạnh xã hội hoá trong thực hiện chính sách xã hội, bảo trợ xã hội.

3. Giáo dục đào tạo:

Giữ vững chất lượng, thành quả đã đạt được, tiếp tục thực hiện mục tiêu “nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài”, hiệu suất đào tạo đáp ứng yêu cầu nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện. Một số chỉ tiêu nhiệm vụ cụ thể: mặt bằng học vấn của người dân quận nhà đến năm 2005 là: 10. Tiếp tục thực hiện xã hội hoá giáo dục, đa dạng hoá các loại hình trường lớp: bán công, dân lập, tư thục. Xây dựng 3 trường đạt tiêu chuẩn quốc gia, tạo điều kiện xây dựng mới 1 trường cấp III, 1 trường đại học. Nâng chất lượng hoạt động của Hội Khuyến học, Hội Phụ huynh học sinh, Hội đồng Giáo dục và quỹ bảo trợ tài năng trẻ quận.

Củng cố, nâng cấp Trung tâm Dạy nghề thực hiện tốt chức năng dạy nghề, hướng nghiệp, cung ứng lao động cho các ngành kinh tế trong công nghiệp hoá, hiện đại hoá trên địa bàn quận.

4. Văn hoá Thông tin - Thể dục Thể thao:

a. Văn hoá Thông tin:

- Tiếp tục thực hiện chương trình hành động thực hiện Nghị quyết Trung ương 5 về xây dựng và phát triển nền văn hoá Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc và xây dựng môi trường văn hoá xã hội lành mạnh: tăng cường công tác tuyên truyền cổ động về đường lối chủ trương của Đảng và pháp luật Nhà nước sâu rộng trong nhân dân, bằng các hoạt động thông tin, văn hoá văn nghệ góp phần xây dựng lối sống lành mạnh, góp phần đưa cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá, khu phố văn hoá, gia đình văn hoá, người tốt việc tốt” có kết quả thực chất ở địa bàn dân cư. Xây dựng các cơ sở hạ tầng văn hoá: Trung tâm Văn hoá, Nhà Thiếu nhi… phục vụ nhu cầu văn hoá cho nhân dân đặc biệt là lực lượng thanh thiếu nhi. Tăng cường công tác giáo dục truyền thống trong nhân dân.

b. Thể dục Thể thao:

Mục tiêu cơ bản, lâu dài của công tác thể dục thể thao là hình thành một phong trào thể dục thể thao quần chúng phát triển vững chắc, góp phần giáo dục nhân cách, tăng cường thể lực, trí tuệ, lối sống lành mạnh. Củng cố và xây dựng hệ thống đào tạo vận động viên trẻ, một số môn thể thao mang thế mạnh của quận, mở rộng, xây dựng mới Trung tâm Thể dục Thể thao quận đồng thời với việc thực hiện cuộc vận động toàn xã hội đóng góp xây dựng các loại hình cơ sở vật chất tập luyện thể dục thể thao, nâng số lượng người dân tham gia luyện tập thể dục thể thao thường xuyên đạt 20% dân số.

5. Chăm sóc sức khỏe:

Tập trung chăm sóc sức khỏe ban đầu trong nhân dân: tiêm chủng mở rộng, phòng các bệnh lây lan trong cộng đồng, bảo vệ môi trường, chống suy dinh dưỡng, bảo vệ chăm sóc bà mẹ trẻ em, kế hoạch hoá gia đình, phòng chống HIV/AIDS, phòng chống ma túy… Do đó phải tăng cường kiện toàn mạng lưới y tế cơ sở vật chất, đội ngũ y, bác sĩ khám và điều trị.

Xây dựng sửa chữa nâng cấp Trung tâm Y tế quận và các phòng khám khu vực, phòng khám chuyên khoa, đồng thời với việc đào tạo nâng cao trình độ chuyên môn của đội ngũ y, bác sĩ tại trung tâm và phòng khám chuyên khoa. Tăng cường y đức trong phục vụ bệnh nhân.

III. AN NINH QUỐC PHÒNG:

A. MỤC TIÊU:

“Nhiệm vụ an ninh quốc phòng trong những năm tới là tiếp tục củng cố nền quốc phòng toàn dân và an ninh nhân dân, nâng cao chất lượng xây dựng lực lượng vũ trang trong sạch vững mạnh, vận động sức mạnh toàn dân đấu tranh chống âm mưu “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch, ổn định chính trị xã hội, bảo vệ kinh tế xã hội phát triển”.

B. NHIỆM VỤ CỤ THỂ:

1. An ninh chính trị - trật tự an toàn xã hội:

Chủ động, nòng cốt phối hợp với các tổ chức trong hệ thống chính trị thực hiện tốt chính sách đại đoàn kết dân tộc, chính sách tôn giáo và chính sách dân tộc của Đảng, sẵn sàng, kiên quyết làm thất bại âm mưu lợi dụng vấn đề tôn giáo, dân tộc làm ảnh hưởng đến an ninh chính trị trên địa bàn quận. Xây dựng phương án bảo vệ an ninh kinh tế, bảo vệ an ninh văn hoá tư tưởng, bài trừ văn hoá phẩm độc hại, ngăn chặn kịp thời các luận điệu tuyên truyền phản động, tung tin thất thiệt gây hoang mang dư luận. Nắm chắc các địa bàn trọng yếu thực hiện giải quyết nhanh những khiếu kiện chính đáng trong nhân dân, không để xảy ra điểm nóng. Phối hợp chặt chẽ với Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể trong việc xây dựng lực lượng chính trị nòng cốt, lực lượng an ninh nhân dân ở cơ sở. Về trật tự an toàn xã hội: tiếp tục thực hiện kế hoạch đấu tranh chống buôn lậu, đấu tranh ngăn chặn các vi phạm kinh tế, kinh doanh dịch vụ văn hoá. Thực hiện phương án phòng chống tội phạm hình sự, chống tệ nạn xã hội ngay tại địa bàn dân cư giảm tỉ lệ phạm pháp hình sự 20%, tỉ lệ phá án hàng năm 70%.

Khắc phục nhanh tình hình vi phạm trật tự an toàn giao thông đường bộ, đường thủy. Trong phong trào quần chúng bảo vệ an ninh Tổ quốc, phát huy vai trò tích cực của hoạt động chi bộ khu phố trong xây dựng khu phố văn hoá, hộ, tổ dân phố tự quản. Duy trì thực hiện nghị quyết liên tịch giữa Hội CCB và các đoàn thể, các ngành chức năng nhằm phát huy sức mạnh tổng lực làm ổn định tình hình, chống các tiêu cực, xây dựng môi trường văn hoá xã hội lành mạnh ở cơ sở. Tiếp tục tập trung công tác xây dựng lực lượng công an trong sạch vững mạnh, cả về chính trị, tổ chức và đảm bảo hậu cần trang bị phương tiện phục vụ công tác.

2. Nhiệm vụ quốc phòng:

Chủ động bổ sung xây dựng các phương án sẵn sàng chiến đấu, kế hoạch A và phương án phòng chống cháy nổ, phương án bảo vệ địa bàn phối hợp giữa hai lực lượng công an – quân sự từ quận đến phường. Thực hiện nghiêm túc chế độ trực sẵn sàng chiến đấu, kế hoạch phòng thủ, kế hoạch công tác đóng quân canh phòng, kế hoạch bảo vệ các cơ quan, mục tiêu trọng yếu trên địa bàn. Tiếp tục xây dựng củng cố lực lượng dân quân tự vệ theo đúng pháp lệnh dân quân tự vệ trên địa bàn quận giữ vững tỉ lệ 3% dân số. Duy trì chất lượng công tác huấn luyện quân sự và nâng cao kiến thức quốc phòng trong đội ngũ cán bộ chủ chốt, giáo dục quốc phòng toàn dân, thực hiện chấp hành nghiêm Pháp lệnh dự bị động viên. Chú trọng nâng chất lượng huấn luyện đối với lực lượng dự bị động viên, dân quân tự vệ khối phường và tự vệ khối cơ quan, xí nghiệp, trường học. Thực hiện tốt chỉ tiêu công tác động viên tuyển quân hàng năm đạt 100%. Đảm bảo công tác hậu cần kỹ thuật phục vụ dự trữ sẵn sàng chiến đấu và nâng mức đảm bảo thường xuyên trong đời sống sinh hoạt lực lượng quân sự từ quận đến cơ sở. Giữ vững chất lượng công tác Đảng, công tác chính trị trong quân đội, thực hiện tốt công tác chăm lo các đối tượng chính sách, công tác hậu phương quân đội và công tác dân vận trong thời kỳ mới.

*

*    *

PHẦN THỨ BA
XÂY DỰNG HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ
ĐÁP ỨNG YÊU CẦU NHIỆM VỤ CỦA QUẬN

Xuất phát từ thực trạng tình hình và phương hướng mục tiêu đổi mới, phát triển nền kinh tế của quận theo định hướng xã hội chủ nghĩa, giữ vững tốc độ tăng trưởng kinh tế, ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội, tạo cơ sở vật chất tinh thần vững chắc bước vào thế kỷ 21. Thực hiện PHƯƠNG CHÂM, QUAN ĐIỂM CHỈ ĐẠO xuyên suốt của Đảng bộ quận trong thời gian tới là: “Phát triển kinh tế là nhiệm vụ trung tâm, xây dựng Đảng là then chốt, tăng cường hiệu lực, hiệu quả quản lý của chính quyền, phát huy quyền làm chủ của nhân dân trên các lĩnh vực đời sống xã hội, đảm bảo vai trò hạt nhân lãnh đạo của Đảng bộ trong xây dựng hệ thống chính trị ngang tầm với thời kỳ đổi mới, công nghiệp hoá, hiện đại hoá”.

I. PHƯƠNG PHƯỚNG XÂY DỰNG ĐẢNG:

A. MỤC TIÊU:

“Tiếp tục đổi mới xây dựng chỉnh đốn Đảng, thực hiện phương châm xây dựng Đảng là then chốt, phát huy sức mạnh toàn hệ thống chính trị, xây dựng Đảng vững mạnh cả về chính trị tư tưởng và tổ chức, nâng cao sức chiến đấu và năng lực lãnh đạo của Đảng bộ ngang tầm với thời kỳ mới”.

B. PHƯƠNG HƯỚNG NHIỆM VỤ CỤ THỂ:

1. Về tư tưởng chính trị:

Tăng cường sự thống nhất trong toàn Đảng bộ, tạo đoàn kết nhất trí về nhận thức và hành động, thực hiện nói và làm theo nghị quyết, thực hiện đúng cương lĩnh điều lệ Đảng và pháp luật Nhà nước. Toàn Đảng bộ kiên định những vấn đề về quan điểm có tính nguyên tắc của Đảng đã được xác định trong Nghị quyết TW6 (lần 2) về một số vấn đề cơ bản và cấp bách trong công tác xây dựng Đảng hiện nay.

Thực hiện tổng kết cuộc vận động xây dựng chỉnh đốn Đảng (19.5.1999 – 19.5.2001) sau đó đưa công tác xây dựng Đảng đi vào nền nếp thường xuyên. Nâng cao sức chiến đấu và năng lực lãnh đạo của toàn Đảng bộ, tính tiên phong và tính giai cấp của đội ngũ đảng viên: đổi mới việc xây dựng nghị quyết và triển khai thực hiện nghị quyết, thực hiện nghiêm túc chế độ học tập chính trị trong Đảng. Đẩy mạnh công tác tổng kết thực tiễn và nghiên cứu lý luận, cải tiến công tác nghiên cứu thăm dò định hướng dư luận xã hội. Bồi dưỡng nâng cao bản lĩnh chính trị, kiến thức, năng lực lãnh đạo của các tổ chức cơ sở Đảng. Tập trung công tác rèn luyện phẩm chất đạo đức lối sống của cán bộ đảng viên trong hệ thống chính trị.

2. Về tổ chức:

Một số nhiệm vụ công tác trọng tâm trong thời gian tới: xây dựng kế hoạch tiếp tục củng cố tăng cường sức chiến đấu và năng lực lãnh đạo của các tổ chức cơ sở Đảng, gắn liền với quá trình thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở. Tổ chức sơ kết việc thực hiện quy chế hoạt động của các loại hình cơ sở Đảng, đề nghị bổ sung quy chế hoạt động của loại hình tổ chức Đảng bộ phường, chi bộ khu phố, có biện pháp nâng chất lượng hoạt động của loại hình chi bộ doanh nghiệp sản xuất kinh doanh. Thường xuyên kiểm tra, hướng dẫn nề nếp sinh hoạt chi bộ, thực hiện đúng tính chất lãnh đạo, giáo dục, chiến đấu. Thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ, tự phê bình và phê bình trong tổ chức sinh hoạt Chi Đảng bộ. Thực hiện đề án sắp xếp tổ chức gắn liền với đề án cải cách hành chính. Tiếp tục thực hiện công tác chính sách cán bộ, công tác quy hoạch đào tạo, bổ nhiệm, bổ nhiệm lại cán bộ chủ chốt nhiệm kỳ 2000 – 2005 và đến năm 2010. Đào tạo cán bộ phải xuất phát từ cơ sở, trong con em cán bộ, gia đình chính sách. Thực hiện tiêu chuẩn hoá cán bộ đến năm 2005 cán bộ chủ chốt của quận dưới 45 tuổi phải có trình độ đại học. Hướng dẫn các tổ chức cơ sở Đảng, các tổ chức trong hệ thống chính trị tạo nguồn, tạo điều kiện môi trường phấn đấu phục vụ cho công tác bồi dưỡng kết nạp đảng viên mới. Phấn đấu thực hiện công tác phát triển đảng viên mới ít nhất 50 đảng viên/năm. Nâng cao nội dung phân tích chất lượng đảng viên, phân tích chất lượng cơ sở Đảng hàng năm. Phấn đấu 80% cơ sở Đảng đạt tiêu chuẩn trong sạch vững mạnh hàng năm.

3. Nhiệm vụ công tác kiểm tra:

Tăng cường biện pháp giáo dục đảng viên, đề cao trách nhiệm các cơ sở Đảng chấp hành nghiêm túc điều lệ Đảng. Đưa vào nề nếp thường xuyên công tác kiểm tra việc chấp hành các chỉ thị, nghị quyết và các quyết định của Đảng. Phối hợp với các Ban xây dựng đảng tổ chức kiểm tra việc chấp hành các nguyên tắc tổ chức sinh hoạt đảng và việc thực hiện quy chế hoạt động của các loại hình cơ sở Đảng. Sơ kết đợt vận động xây dựng chỉnh đốn Đảng, tiếp tục kiểm tra hướng dẫn các cơ sở Đảng, xây dựng, những biện pháp khắc phục những tồn tại thiếu sót về tinh thần trách nhiệm, sự chỉ đạo điều hành và về phẩm chất đạo đức lối sống của đội ngũ cán bộ đảng viên. Tăng cường công tác kiểm tra nhằm chủ động ngăn ngừa sai phạm trong tổ chức Đảng và đảng viên. Thực hiện giải quyết kịp thời các khiếu nại tố cáo, xử lý nghiêm các vi phạm đồng thời tạo điều kiện cho đảng viên vi phạm kỷ luật phấn đấu vươn lên. Củng cố tổ chức cán bộ kiểm tra từ quận đến cơ sở đáp ứng cả về phẩm chất đạo đức chính trị và năng lực nghiệp vụ.

4. Bảo vệ chính trị nội bộ:

Tiếp tục thực hiện Chỉ thị 39 và Qui định 75 của Bộ Chính trị, tham mưu công tác cán bộ, qui hoạch đề bạt bổ nhiệm cán bộ, công tác phát triển đảng viên mới.

Nhiệm vụ thường xuyên là phải không ngừng nâng cao nhận thức về âm mưu thủ đoạn của các thế lực thù địch, xây dựng ý thức bảo vệ Đảng, bảo vệ tổ chức cán bộ trong toàn hệ thống chính trị, xây dựng đảng bộ trong sạch vững mạnh về chính trị nội bộ.

II. XÂY DỰNG CỦNG CỐ CHÍNH QUYỀN:

A. MỤC TIÊU:

“Nâng cao chất lượng hoạt động của HĐND và UBND, đẩy mạnh cải cách hành chánh, sắp xếp tinh gọn bộ máy, nâng cao trình độ năng lực của đội ngũ công chức viên chức đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ. Thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở, phát huy vai trò trách nhiệm của Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể trong xây dựng bảo vệ chính quyền, bảo đảm quyền làm chủ của nhân dân trong tham gia vào quản lý nhà nước từ quận đến cơ sở”.

B. MỘT SỐ NHIỆM VỤ CỤ THỂ:

1. Hội đồng nhân dân:

Hoạt động đúng luật định, thực hiện rõ nét là cơ quan quyền lực Nhà nước ở địa phương là đại diện cho ý chí, nguyện vọng, quyền lợi và quyền làm chủ của nhân dân, thực hiện quản lý mọi lĩnh vực xây dựng và phát triển quận. Cải tiến cách ra nghị quyết và giám sát thực hiện nghị quyết của HĐND đối với UBND, Tòa án, Viện kiểm sát Nhân dân quận. Các Ban HĐND quận tăng cường tính chủ động trong việc giám sát, việc tuân thủ pháp luật của các cơ quan, đơn vị và của công dân. Nâng chất lượng các kỳ họp HĐND tập trung quyết định các vấn đề thiết thực nhằm xây dựng phát triển quận. Xác định vai trò vị trí là nhiệm vụ quyền hạn của đại biểu HĐND, nhất là trong mối liên hệ với cử tri, phản ảnh trung thực ý kiến, nguyện vọng và bảo vệ lợi ích hợp pháp của cử tri tại địa bàn hoạt động.

2.  Ủy ban nhân dân:

Thực hiện đúng vị trí, thẩm quyền của cơ quan quản lý nhà nước, hiệu quả quản lý hành chánh nhà nước trên lĩnh vực kinh tế, ngân sách, xã hội…

Tiếp tục thực hiện cải cách hành chánh, cải tiến quy trình giải quyết trong các lĩnh vực liên quan trực tiếp đến đời sống nhân dân (nhà đất, công khai các quy hoạch tổng thể, chi tiết, các thủ tục sản xuất kinh doanh dịch vụ, các quy chế tiếp dân, giải quyết khiếu tố khiếu nại…). Thực hiện đề án sắp xếp tổ chức bộ máy chính quyền tinh gọn theo tinh thần Nghị quyết TW7 (Khóa VIII). Thực hiện đúng quy chế cán bộ công chức và tăng cường công tác quản lý cán bộ công chức trong thực thi công vụ. Tăng cường sự lãnh đạo của UBND quận với UBND các phường trong thực hiện vai trò vị trí chính quyền cơ sở, trong việc tổ chức chấp hành các quyết định của các cơ quan hành chánh cấp quận. Nâng chất lượng công tác dân vận của chính quyền, chủ động phối hợp sơ kết thực hiện qui chế dân chủ ở cơ sở phường, khu phố, trong cơ quan và trong các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh. Có biện pháp vận động phát huy quyền làm chủ của nhân dân trong xây dựng quản lý Nhà nước từ quận đến phường. Nâng chất lượng hoạt động tư pháp, thanh tra, kiểm tra, kiểm sát, kiểm tra. Đảm bảo hiệu quả quản lý nhà nước, chống tiêu cực, chống tham nhũng trên những lĩnh vực quan trọng: tài chính, nhà đất, xây dựng, lao động, thực thi công cụ…

III. CÔNG TÁC VẬN ĐỘNG QUẦN CHÚNG:

A. MỤC TIÊU:

“Tăng cường công tác vận động giáo dục chính trị đi vào chiều sâu, tập trung hướng về cơ sở, chăm lo bảo vệ lợi ích chính đáng của quần chúng làm động lực tập hợp, giáo dục vận động, xây dựng lực lượng. Lấy cuộc vận động toàn dân đoàn kết xây dựng cuộc sống mới ở khu dân cư, xây dựng đời sống văn hoá làm phong trào trung tâm, đẩy mạnh thực hiện quy chế dân chủ cơ sở, vận động nguồn lực trong các tầnglớp nhân dân góp phần tích cực thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội Đảng bộ quận lần thứ VIII (2000 – 2005)”.

B. NHIỆM VỤ CỤ THỂ:

1. Công tác dân vận của Đảng:

- Thực hiện nhất quán toàn Đảng bộ quan điểm cơ bản của Nghị quyết 8B (Khóa VI), các quan điểm tư tưởng về “dân và công tác dân vận” của Chủ tịch Hồ Chí Minh, các cấp ủy Đảng tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo nắm bắt kịp thời và giải quyết những vấn đề bức xúc của nhân dân về đời sống sinh hoạt. Vận động toàn hệ thống chính trị tham gia đợt vận động xây dựng chỉnh đốn Đảng ( – 19/5/2001) sau đó trở thành nền nếp thường xuyên. Tập trung chỉ đạo cuộc vận động “toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá” và thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở. Từng cấp ủy đảng xây dựng nghị quyết chuyên đề về công tác vận động quần chúng, tăng cường cán bộ đảng viên có phẩm chất, năng lực làm công tác vận động quần chúng, công tác dân vận của Đảng. Quan tâm quy hoạch đào tạo, củng cố kiện toàn các tổ chức Mặt trận Tổ quốc, đoàn thể từ quận đến cơ sở. Lãnh đạo xây dựng lực lượng chính trị nòng cốt ở các cơ sở mặt trận đoàn thể. Chú ý công tác bồi dưỡng phát triển hội viên, đoàn viên, đảng viên mới trong quần chúng ưu tú, góp phần tích cực hoàn thành chỉ tiêu phát triển chất lượng chính trị trong Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể.

2. Công tác dân vận của chính quyền:

- Tăng cường hiệu lực quản lý Nhà nước của bộ máy chính quyền các cấp, bồi dưỡng năng lực của cán bộ công chức, xây dựng Nhà nước của dân, do dân và vì dân. Thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở phường, khu phố, cơ quan, doanh nghiệp.

- Nâng cao năng lực quản lý Nhà nước, tiếp tục thực hiện cải cách hành chính, sửa đổi lề lối làm việc theo hướng dân chủ hoá, chống quan liêu, tham nhũng. Giải quyết kịp thời các kiến nghị, khiếu nại, tố cáo của công dân. Xây dựng nề nếp công tác tiếp dân, thường xuyên đi cơ sở, bám sát thực tiễn. Kịp thời biểu dương các cá nhân, tập thể làm tốt công tác dân vận của chính quyền từ quận đến cơ sở.

3. Công tác vận động quần chúng của MTTQ - các đoàn thể:

a. Ủy ban Mặt trận Tổ quốc quận:

Giữ vững và mở rộng khối đại đoàn kết toàn dân. Nòng cốt chủ trì phối hợp, thực hiện có hiệu quả các nội dung trong cuộc vận động “toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá, xây dựng cuộc sống mới ở khu dân cư”; tuyên truyền giáo dục, vận động các tầng lớp nhân dân, tôn giáo, dân tộc, các hội quần chúng hưởng ứng tích cực và chấp hành tốt các chủ trương, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước, phát động nhiều phong trào thi đua yêu nước, yêu CNXH. Tham gia xây dựng Đảng và thực hiện chức năng giám sát chính quyền, chức năng đại diện cho quyền lợi chính đáng của quần chúng các giới.

Nâng chất lượng hoạt động các Ban Mặt trận khu phố, Ban Thanh tra nhân dân, hướng dẫn, quản lý các hoạt động hội quần chúng, các tổ chức xã hội, tôn giáo và dân tộc đúng hướng, cùng thực hiện thắng lợi mục tiêu: “Dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”.

b. Đoàn TNCS.HCM và Đội Thiếu niên Tiền phong HCM:

Các cấp ủy Đảng xây dựng nghị quyết chuyên đề về công tác thanh thiếu niên (2000 – 2005). Hoạt động của Đoàn Thanh niên, Hội Liên hiệp Thanh niên tập trung nội dung giáo dục nâng cao nhận thức chính trị, tinh thần yêu nước trong thanh thiếu niên, chú trọng cơ sở khu phố, tổ dân phố, khu vực trường học và các đơn vị kinh tế ngoài quốc doanh, lấy chương trình “Mưu sinh lập nghiệp” làm đòn bẩy để chăm lo đời sống, giải quyết việc làm, vui chơi giải trí, học tập, ngày càng thu hút nhiều thanh niên đến với tổ chức Đoàn - Hội Liên hiệp Thanh niên, giới thiệu nhiều đoàn viên ưu tú kết nạp vào Đảng Cộng sản Việt Nam.

Phối hợp với các ngành chức năng, các đoàn thể, các tổ chức xã hội cùng chăm lo cho lực lượng thiếu niên bằng các việc làm thiết thực, các công trình cho thiếu nhi, đặc biệt là thiếu nhi nghèo, trẻ bất hạnh. Duy trì và phát triển hoạt động Đội ở trường học và địa bàn dân cư.

c. Hội Liên hiệp Phụ nữ quận:

Nâng chất hiệu quả 2 phong trào lớn, 5 chương trình công tác của Hội, lấy chương trình “Phụ nữ giúp nhau làm kinh tế gia đình”, xây dựng gia đình hạnh phúc, nuôi dạy con giỏi, bảo vệ nhân phẩm phụ nữ và trẻ em, làm đòn bẩy để tập hợp, tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức chính trị và kiến thức về giới, phát triển lực lượng, nâng chất hoạt động chi tổ hội khu phố, tổ dân phố.

d. Liên đoàn Lao động quận:

Tăng cường các biện pháp và mô hình hoạt động các phong trào thi đua xã hội chủ nghĩa, xây dựng giai cấp công nhân ngày càng vững mạnh góp phần đẩy nhanh sự nghiệp công nghiệp hoá - hiện đại hoá trên địa bàn quận; Chú trọng kiện toàn và nâng chất hoạt động các tổ chức công đoàn ngoài quốc doanh, xây dựng các nghiệp đoàn, tạo động lực thúc đẩy tốc độ phát triển kinh tế; thực hiện tốt hơn chức năng bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng, hợp pháp của công nhân và người lao động. Tiếp tục thực hiện có hiệu quả và đúng mục đích quỹ trợ vốn CEP cho công nhân và người lao động nghèo cải thiện, nâng cao đời sống.

e. Hội Nông dân quận:

Trong điều kiện chuyển đổi cơ cấu kinh tế và đất sản xuất nông nghiệp ngày càng thu hẹp, trong 5 năm tới cần nghiên cứu có nhiều chuyên đề khoa học, áp dụng kỹ thuật, hướng dẫn chuyển đổi cơ cấu vật nuôi, cây trồng có giá trị kinh tế cao nhằm tăng thu nhập cho các hộ nông dân. Tạo nhiều điều kiện, khơi nhiều nguồn vốn hỗ trợ nông dân sản xuất nâng mức thu nhập, tiếp tục phát động phong trào thi đua “Nông dân sản xuất kinh doanh giỏi” có thu nhập cao, nòng cốt trong xây dựng nông thôn mới, xây dựng nếp sống văn minh đô thị.

g. Hội cựu Chiến binh - Hưu trí quận:

Tiếp tục phát huy vai trò nòng cốt trong các phong trào hành động cách mạng tại địa phương, tham gia tích cực trong các tổ chức Đảng, HĐND – UBND, tổ dân phố, Ban chấp hành các đoàn thể ở cơ sở với “lời nói trách nhiệm, việc làm thiết thực”, là tấm gương sáng trong giáo dục truyền thống cho thế hệ trẻ, vận động gia đình cùng địa phương giữ gìn an toàn trật tự xã hội, phòng chống có hiệu quả các tệ nạn xã hội nghiêm trọng trên địa bàn thông qua tiếp tục phát huy hiệu quả liên tịch với Công an, Quân sự, Ngành Giáo dục, Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh.

h. Hội Chữ thập đỏ quận:

Hoạt động của Hội đi sâu vào các lĩnh vực công tác xã hội nhân đạo - từ thiện, vận động hiến máu cứu người, cứu trợ thiên tai, hỏa hoạn, bảo vệ môi sinh, môi trường, chăm sóc người già cô đơn, trẻ khuyết tật, trẻ bất hạnh. Vận động xã hội hóa tăng các nguồn quỹ chăm lo các đối tượng. Tiếp tục kiện toàn và nâng chất hoạt động các tổ chức chân rết, xây dựng mạng lưới chữ thập đỏ rộng khắp địa bàn dân cư, trường học, cơ quan, công ty, xí nghiệp (ngoài quốc doanh).

*

*    *

PHẦN THỨ TƯ
NHỮNG GIẢI PHÁP LỚN

Nhằm mục đích thực hiện phương hướng mục tiêu tổng quát của nhiệm vụ xây dựng, phát triển, bảo vệ quận và phương châm quan điểm chỉ đạo xuyên suốt của nhiệm vụ xây dựng tăng cường hệ thống chính trị trong nhiệm kỳ tới (2000 – 2005). Đảng bộ quận đề ra một số giải pháp lớn trên một số giải lĩnh vực như sau:

1. Nhóm giải pháp về kinh tế xã hội:

- Tiếp tục thực hiện nghị quyết công nghiệp hoá, hiện đại hoá sản xuất công nghiệp quận Gò Vấp (1997 – 2010). Khuyến khích các thành phần kinh tế phát triển. Ưu tiên đầu tư phát triển sản xuất hạn chế gây ô nhiễm môi trường (xử lý chất thải, nước thải, không khí, tiếng ồn…).

- Công bố các quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế xã hội. Cải tiến các thủ tục hành chánh kinh tế, tạo môi trường thu hút đầu tư sản xuất, kinh doanh thương mại dịch vụ góp phần thực hiện có kết quả 10 công trình đã được xác định từ 2000 – 2005.

- Về phát triển cơ sở hạ tầng tiếp tục tăng cường giải pháp tranh thủ nguồn vốn hỗ trợ từ ngân sách thành phố. Thực hiện chủ trương qui hoạch, giao đất, phát triển cơ sở hạ tầng. Tăng cường kiểm tra việc thực hiện quy chế đấu thầu, tạo điều kiện cho thành phần kinh tế doanh nghiệp Nhà nước tham gia xây dựng các công trình trọng điểm. Sử dụng có hiệu quả nguồn vốn duy tu, vận động phương châm Nhà nước và nhân dân cùng làm: xi măng hoá đường hẻm, hệ thống thoát nước các con đường lộ giới dưới 12 m. Lập lại trật tự xây dựng, quản lý đô thị, khắc phục tình trạng lấn chiếm đất công, lộ giới, kênh rạch, xây dựng sửa chữa không phép.

- Vận động các nguồn vốn xã hội - bảo trợ từ thiện góp phần thực hiện chương trình trợ vốn, xóa đói giảm nghèo đạt chỉ tiêu dưới 2% dân nghèo trong toàn quận đến năm 2005. Xã hội hoá trong các lĩnh vực: đào tạo nghề, cung ứng giải quyết lao động việc làm, xây dựng cơ sở vật chất, phát triển đa dạng hoá các loại hình trường lớp, phát triển các quỹ khuyến học, quỹ bảo trợ tài năng trẻ và trong đầu tư xây dựng các thiết chế văn hoá phù hợp với yêu cầu phục vụ đời sống văn hoá tinh thần lành mạnh, đúng pháp luật. Trong lĩnh vực thể dục thể thao vận động xã hội hoá nhằm xây dựng các tụ điểm tập luyện thể dục thể thao, các câu lạc bộ thể dục thể thao, đào tạo năng khiếu, đào tạo vận động viên thành tích cao.

2. Giải pháp về công tác vận động quần chúng:

Xây dựng nghị quyết của Đảng bộ về công tác vận động quần chúng trong tình hình mới. Quy định nhiệm vụ cụ thể của Đảng bộ, chính quyền Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể trong thực hiện công tác dân vận, công tác vận động quần chúng. Tập trung công tác vận động quần chúng về cơ sở, địa bàn dân cư trong doanh nghiệp, cơ quan, trường học.

Thực hiện đề án sắp xếp tổ chức bộ máy Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân phù hợp với chức năng, tôn chỉ mục đích hoạt động. Lựa chọn cán bộ công tác dân vận phát huy được bản lĩnh chính trị, nghiệp vụ. Xây dựng quy chế làm việc, đổi mới phương thức hoạt động hướng mạnh về cơ sở, sâu sát với những lợi ích nguyện vọng chính đáng của hội viên đoàn viên và nhân dân. Thông qua học tập thi đua nhân điển hình tiên tiến, gương người tốt, việc tốt trên các lĩnh vực để vận động quần chúng ngay tại địa bàn dân cư, bồi dưỡng nhân tố mới từ phong trào cho công tác phát triển chất lượng chính trị, lực lượng chính trị nòng cốt. Duy trì việc vận động thực hiện “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra” ở cơ sở.

3. Nhóm giải pháp về xây dựng Đảng, xây dựng củng cố chính quyền:

- Tiếp tục xây dựng nội dung đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng bộ ngang tầm với thời kỳ mới. Xây dựng quy chế hoạt động của Ban Chấp hành quận Đảng bộ nhiệm kỳ VIII (2000 – 2005). Đổi mới cách ra nghị quyết và triển khai thực hiện nghị quyết. Tăng cường công tác lãnh đạo kiểm tra hệ thống chính trị trong thực hiện các phương hướng mục tiêu kế hoạch công tác từng thời điểm. Đổi mới chỉnh đốn Đảng, giữ vững nguyên tắc tập trung dân chủ chế độ sinh hoạt tự phê bình và phê bình trong toàn đảng bộ. Tiếp tục củng cố tăng cường sức chiến đấu và năng lực lãnh đạo của các tổ chức cơ sở Đảng. Thực hiện tiêu chuẩn hoá đội ngũ cán bộ về phẩm chất đạo đức, năng lực, kiến thức đảm bảo hoàn thành nhiệm vụ phân công. Duy trì nề nếp công tác phân tích chất lượng cơ sở Đảng trong sạch vững mạnh và chất lượng đảng viên hàng năm.

- Giải pháp quyết định đối với hiệu quả chất lượng quản lý Nhà nước trên địa bàn quận là tăng cường sự lãnh đạo của Đảng bộ đối với hoạt động của HĐND và công tác quản lý điều hành của cơ quan chính quyền đúng định hướng, phương hướng phát triển như Nghị quyết Đại hội Đảng bộ quận đã đề ra. Đẩy mạnh cải cách hành chính, tăng cường kỷ cương trong thi hành luật pháp. Thực hiện quy chế dân chủ, phát huy quyền làm chủ tập thể của nhân dân (dân chủ đại diện – dân chủ trực tiếp) trong xây dựng và quản lý chính quyền. Phòng chống tham nhũng ở một số ngành kinh tế tổng hợp, xây dựng cơ bản, các nguồn quỹ trợ vốn, giải quyết việc làm và cải tiến thủ tục quản lý hành chánh kinh tế, các cơ quan Nhà nước từ quận đến phường.

4. Giải pháp tổ chức chỉ đạo thực hiện:

Cụ thể hoá Nghị quyết Đại hội Đại biểu quận Đảng bộ lần thứ VIII (2000 – 2005) bằng các nghị quyết chuyên đề, chương trình công tác trên từng lĩnh vực cụ thể: kinh tế xã hội, an ninh quốc phòng, xây dựng hệ thống chính trị. Xác định trách nhiệm của tập thể và cá nhân trong triển khai tổ chức thực hiện nhiệm vụ chính trị trên từng lĩnh vực.

Triển khai đề án sắp xếp tinh gọn bộ máy Đảng, chính quyền, đoàn thể theo tinh thần Nghị quyết Trung ương 7 (Khóa VIII). Có kế hoạch đào tạo và đào tạo lại đội ngũ cán bộ chủ chốt trong hệ thống chính trị theo hướng chất lượng, hiệu quả. Thực hiện công tác qui hoạch, đào tạo, bổ nhiệm, bổ nhiệm lại đúng qui định về phân cấp quản lý cán bộ. Xây dựng kế hoạch đào tạo cán bộ phường là người tại chỗ. Xây dựng qui chế phối hợp quản lý cán bộ, đảng viên, đoàn viên, hội viên tại nơi sinh hoạt, công tác và nơi cư trú.

Cải tiến chế độ hội họp, hội nghị, xây dựng nối mạng thông tin vi tính phục vụ cho công tác lãnh đạo, quản lý, điều hành từ quận đến cơ sở. Thực hiện nề nếp đi sát cơ sở, giữ vững chế độ chỉ đạo, kiểm tra, sơ kết, tổng kết, nhân điển hình tiên tiến, nâng chất lượng phong trào thi đua xã hội chủ nghĩa trên địa bàn quận trong thời kỳ mới.

*

*    *

Đại hội Đảng bộ quận lần VIII có ý nghĩa quan trọng đặc biệt. Là đại hội tiếp tục thực hiện sự nghiệp đổi mới công nghiệp hoá - hiện đại hóa, tiếp tục tạo những tiền đề vật chất tinh thần cho quận bước vào thế kỷ 21. Giữ vững và phát huy truyền thống năng động sáng tạo, đoàn kết nhất trí, vượt qua những khó khăn thách thức, nắm chắc thời cơ, tích cực vận động các nguồn lực cho phát triển, Đảng bộ, Chính quyền và các tầng lớp nhân dân quận nhà quyết tâm thực hiện thắng lợi những phương hướng nhiệm vụ mục tiêu Đại hội Đảng bộ quận lần VIII nhiệm kỳ (2000 – 2005) đã đề ra.

ĐẢNG BỘ QUẬN GÒ VẤP

Thông báo