Thứ Bảy, ngày 4 tháng 7 năm 2020

Báo cáo tình hình nhiệm vụ của Quận ủy trước Đại hội Đại biểu Đảng bộ Quận 3 lần thứ nhất

PHẦN I: ĐẶC ĐIỂM TÌNH HÌNH QUẬN 3 HAI NĂM QUA

Bước vào giai đoạn cách mạng mới, giai đoạn cách mạng xã hội chủ nghĩa, dưới sự lãnh đạo của Thành uỷ, Quận 3 cùng toàn thành phố tập trung thực hiện nhiệm vụ công tác cấp bách trước mắt là xây dựng chính quyền cách mạng, truy quét tàn quân địch, trấn áp phản cách mạng hiện hành, ổn định và giữ gìn an ninh trật tự, xoá bỏ tư sản mại bản, trừng trị đại gian thương hiện hành, cứu đói, khôi phục và phát triển sản xuất, chăm sóc đời sống chuyên chính vô sản.

Cuộc đấu tranh giai cấp trong buổi đầu và đứng trước vô vàn khó khăn đã diễn ra rất căng thẳng gay go phức tạp hàng ngày hàng giờ. Cuộc cách mạng sôi nổi liên tục, đã tạo được chuyển biến cách mạng sâu sắc toàn diện trên các mặt hoạt động và đời sống của xã hội. Ta không ngừng phát huy thế và lực của cách mạng, tăng cường chuyên chính vô sản, phát huy quyền làm chủ tập thể của nhân dân lao động để giải quyết vấn đề ”ai thắng ai” giữa giai cấp vô sản và giai cấp tư sản, giữa hai con đường xã hội chủ nghĩa và tư bản chủ nghĩa.

Trong 2 năm qua, tình hình quận 3 thể hiện như sau:

ƯU ĐIỂM, THÀNH TÍCH:

a. Thành lập chính quyền cách mạng, trấn áp phản cách mạng hiện hành, ổn định và giữ gìn an ninh chính trị, trật tự xã hội:

Chính quyền chuyên chính vô sản được thành lập từ đầu, chấn chỉnh và củng cố liên tiếp, đã loại ra trên 600 bọn địch, bọn xấu chen vào và sa thải những người không xứng đáng. Từ tháng 6/1976 đến nay, đã 3 lần tự phê bình trước 100.000 quần chúng, được trên 10.000 ý kiến phê bình xây dựng. Thi hành chủ trương xếp thành phố còn 3 cấp, quận đã giải thể 9 phường, 48 khóm cũ, lập 25 phường mới, mỗi phường trên dưới 10.000 dân, chia khu vực lập tổ Đảng, mỗi khu vực từ 2.500 đến 3.000 dân, 780 tổ dân phố, mỗi tổ từ 35 đến 50 hộ theo tổ chức hành chính kết hợp hoạt động ngành nghề về việc đi lại thuận tiện.

Chính quyền đã phát huy vai trò quản lý hành chính. Khối nội chính được xây dựng và kiện toàn từ quận xuống phường. Mạng lưới an ninh nhân dân bảo vệ Tổ quốc đã hình thành và phát huy tác dụng tích cực. Có 232 cảnh sát khu vực, 780 tổ dân phố, 25 tiểu đội tự vệ nồng cốt, 25 trung đội tự vệ rộng rãi, 25 đại đội dân phòng, 585 tổ hoà giải, trên 1.000 tiểu tổ đoàn thể, đang thí điểm thành lập thanh tra nhân dân và phát huy phong trào đăng ký 5 tốt bảo vệ an ninh Tổ quốc. Lần đầu tiên trong thành phố quần chúng phấn khởi tự hào công khai đưa 834 con em lên đường nhập ngũ và trên 350 con em vào công an nhân dân.

Kết hợp lực lượng bên trên và địa phương, ta đã truy quét cải tạo tại chỗ 22.453 nguỵ quân, nguỵ quyền, đưa đi cải tạo tập trung 4.729 tên, qua đăng ký hộ khẩu phát hiện 4.377 tên trốn trình diện và học tập cải tạo. Đã khôi phục quyền công dân 98,3% số cải tạo tại chỗ, cho về nhà 791 số cải tạo tập trung, đưa về nông thôn 3.463 nguỵ quân, nguỵ quyền.

Trấn áp 25 tổ chức và nhen nhóm phản cách mạng hiện hành, bắt 690 tên.

Hình sự và tệ nạn xã hội, có 2.215 vụ, bắt 2.837 tên, đưa đi cải tạo tập trung 1.028 tên, giam ở quận 330 tên.

Kết hợp với Thành, ta đấu tranh xoá bỏ 8 tư sản mại bản, trừng trị 3 đại gian thương hiện hành và 292 tên khác bỏ trốn trước ngày 30/4/1975 và lẻ tẻ trong 2 năm qua.

b. Chăm sóc đời sống nhân dân, phân bố lại lao động, giải quyết công ăn việc làm, khôi phục và phát triển một bước sản xuất và phân phối, từng bước ổn định đời sống quần chúng.

Sau khi giải phóng, thi hành chỉ thị của TW Đảng và Thành uỷ không để một người dân chết đói, quận phường đã tập trung lực lượng đưa tận tay 91.000 lượt hộ, trên 500 ngàn lượt người, 47.160 tấn gạo. Quần chúng tương trợ tự cứu hàng vạn đồng, phong trào được duy trì và phát triển trong việc giúp đỡ đồng bào đi kinh tế mới, khi xảy ra tai nạn.

Phân bố lại lao động, giải quyết công ăn việc làm, biện pháp lớn nhất, lãnh đạo khá tập trung và liên tục là vận động đồng bào hồi hương 35.503 người 15.320 lao động, giản dân ra ngoại thành 1.987 người 1.000  lao động, đi kinh tế mới 16.271 người 6.105 lao động, xây dựng 16 xã, ổn định được chỗ ăn ở và sản xuất, giải quyết tốt số người không bám được. Chung có 53.761 người 22.425 lao động, trong đó 3.463 nguỵ quân nguỵ quyền, 7.000 người Hoa, 4.818 người Khmer, 177 người Chàm, 3.015 giáo dân Thiên chúa. Nếu kể 3.470 thanh niên đi làm nghĩa vụ quân sự và thanh niên xung phong xây dựng vùng kinh tế mới (không còn tính nhân khẩu trong địa phương), đến tháng 4/1977 dân trong quận giảm số lượng tuyệt đối 57.231 người 25.895 lao động, so số dân hiện có chiếm 27,8%.

Số lao động hiện còn trong quận 102.477 người, lao động trong khu vực Nhà nước chiếm 26,9%, lao động còn bị bóc lột chiếm 3,6%, lao động trong khu vực tập thể chiếm 2,94%, học sinh sinh viên chiếm 21,8%, lao động trong khu vực ca 1thể chiếm 16,8%, lao động sống bấp bênh, chưa có công ăn việc làm chiếm 26,7%, mất sức lao động chiếm 1,01%. Lao động trong khu vực cá thể, sống bấp bênh và chưa có công ăn việc làm từ 88.789 giảm 44.146 còn 44.643 người. Sự điều phối lao động xã hội phát triển đúng hướng, giảm số không công ăn việc làm xuống còn phân nửa nhưng lao động trong khu vực tư bản tư doanh, khu vực cá thể, sống bấp bênh và không công ăn việc làm còn khá lớn, mật độ dân số quá cao, còn nhiều khu nhà ổ chuột. Bình quân 2,6 nhân khẩu có một lao động chính thức, 3 lao động chính thức có 2 lao động có công ăn việc làm, 1 người làm việc phải nuôi 4 người. Sắp tới hàng năm có thêm 4.000 nhân khẩu mới phải nuôi, 5.400 lao động mới phải giải quyết công ăn việc làm.

Sản xuất tiểu thủ công nghiệp, Quận 3 đứng hạng 6 tổng số đơn vị, hạng 3 tổng số đầu tư, hàng 6 tổng số lao động trong các ngành sản xuất kinh doanh toàn thành phố. Năm 1976 củng cố và phát triển 50 tổ hợp sản xuất 2.463 lao động, sản xuất 55 mặt hàng với 132 chủng loại, tổng sản lượng 1.934.874 đồng. Có 73 cơ sở ký trên 100 hợp đồng với Nhà nước, xuất khẩu 10 mặt hàng, chiếm 68% tổng sản lượng. Quí I/1977 giá trị tổng sản lượng 629.096 đồng, đạt 54,78% kế hoạch. Tổng sản lượng tiểu thủ công nghiệp 1 năm khoảng 12 triệu đồng.

Phân phối 45.032,708 tấn gạo, bình quân mỗi tháng 2.063,7 tấn cho 205.914 nhân khẩu. Ngành lương thực đã phân phối đúng định lượng, đúng kỳ, tới tay dân, lúc khó khăn có sáng kiến vận động các hộ khá giả nhường phần gạo cho các hộ thiếu ăn phối hợp tổ phụ nữ và tổ dân phố bán trước cho những hộ cần trước, làm người nội trợ đảm đang của quần chúng.

Thương nghiệp quốc doanh tăng 162,5% số cửa hàng, tăng 153,33% số lao động, doanh thu chiếm 52,5% tổng doanh thu thương nghiệp, nâng từ 1 cửa hàng phục vụ 30.000 xuống 1 cửa hàng 4.000 dân, lưu lượng hàng hoá tăng 314%, bán lẻ cho quần chúng chiếm 83% tổng số bán ra.

HTX tiêu thụ doanh thu chiếm 7,6% tổng doanh thu thương nghiệp, từ khi thành lập đến nay tiết kiệm cho quần chúng 320.000 đồng, mỗi hộ hàng tháng tiết kiệm 35 đồng, có phường lên 40 đồng. Quận đang cải tạo xếp chợ Nguyễn Văn trỗi phường 23, đã có tiến bộ bước đầu, chuyển 1 bộ phận tiểu thương sang sản xuất, xếp các mặt hàng và lập các tổ bán hàng.

Khả năng giao thông vận tải quận 3 rất lớn nhưng do chưa cải tạo và phân công phân cấp chưa hợp lý, quận mới đảm đương 30.543 tấn/km, còn thiếu kha 3năng chuyên chở 12.742 tấn/km tháng. Thuế thâu 1.750.031 đồng, chiếm 55-60% số phải đóng thuế. Ngân hàng quản lý tiền mặt 33.800.000 đồng, vận động gởi tiết kiệm 3.684.000 đồng, cho vay 2.680.000 đồng, Tài chính đã quản lý được thu chi, bước đầu đi vào quản lý tài sản.

Khu vực kinh tế xã hội chủ nghĩa mới chiếm 16,3% tổng số lao động, 4,8% tổng số vốn, 28,8% tổng số doanh thu các cơ sở sản xuất kinh doanh trong quận. Quốc doanh, HTX, tổ sản xuất, tổ phục vụ mới xây dựng, hoạt động rất tích cực, doanh thu gấp 4 lần số vốn, được quốc doanh trên hỗ trợ đắc lực nhưng lực lượng còn rất yếu, phân phối nhu yếu phẩm mới chiếm đầu người 60 đồng/năm, tổng sản lượng sản xuất tập thể mới chiếm 16,66% tổng sản lượng tiểu thủ công nghiệp trong quận.

c. Cải tạo và xây dựng một bước về văn hoá tư tưởng, nhận thức của công nhân và nhân dân lao động chuyển biến tích cực và sâu sắc, đã tiến bộ nhanh về chính trị, có những phong trào hành động cách mạng sôi nổi liên tục.

Nền văn hoá mới mang nội dung xã hội chủ nghĩa và tính chất dân tộc đang từng bước thâm nhập vào quần chúng và trở thành một yêu cầu đời sống nhân dân, văn hoá thực dân mới nô dịch, đồi truỵ lai căn bước đầu bị đẩy lùi.

Việc công lập hoá trường tư, học sinh đi học miễn phí, vận động xoá mù chữ và bổ túc văn hoá có kết quả tích cực. Quận có 11 nhà trẻ nuôi dạy 3,35% số cháu, 55 trường mẫu giáo dạy 58,3% số cháu, hầu hết đến tuổi đi học đều được vào trường, 3.064 người được xoá mù chữ, 53 người đang học, 2.208 người học bổ túc văn hoá.

Phong trào đọc sách báo cách mạng phát triển và nhân dân đã thực sự tham gia ngày càng đông đảo sáng tác và biểu diễn văn nghệ. Có 19 phòng đọc sách, 450 tổ đọc báo, 26 đội văn nghệ, 9.700 diễn viên, trình diễn 260 buổi, 3.044 tiết mục, 260.481 lượt người xem.

Ngành y tế đã khám 633.267 lượt người, bình quân  mỗi người dân được khám 3, 4 lần, điều trị đông y 17.599 lượt người, điều trị tây y nội trú 2.761 người, phát thuốc miễn phí 158.246 lượt người, bình quân 20 người có 15 người được cấp thuốc. Mạng lưới y tế đang hát triển ở cơ sở, phong trào vệ sinh phòng bệnh đã hạn chế một phần bệnh dịch.

Có 150 huấn luyện viên và hướng dẫn viên thể dục thể thao, 885 vận động viên các bộ môn, thi đấu 155 lượt, bình quân mỗi sáng có 1.500 lượt người tập thể dục.

Ngành xã hội thương binh nuôi dưỡng 786 người già, tàn tật, trẻ mồ côi, cải tạo 574 người tệ nạn xã hội, có 570 liệt sĩ, trên 600 gia đình có công với cách mạng, 128 thương binh, 330 hưu trí, có 48 đồng chí hưu tham gia công tác địa phương, giải quyết công ăn việc làm cho 58 thương binh, gần 100 con liệt sĩ, 60 người có nhà ở.

Giai cấp công nhân và nhân dân lao động từ vị trí làm thuê sang vị trí làm chủ tập thể, giai cấp công nhân trở thành giai cấp nắm chính quyền. Trong khí thế chiến thắng oanh liệt của cả dân tộc, nhân dân thành phố vốn giàu lòng yêu nước, có truyền thống đấu tranh, hết sức phấn khởi tự hào trước cuộc đổi đời của mình.

Do tác động của cuộc đầu tranh cải tạo xã hội chủ nghĩa và xây dựng chủ nghĩa xã hội, do kết quả trực tiếp của công tác văn hoá tư tưởng, góp ý kiến với đại hội 4 của Đảng và đại hội lần I của đảng bộ thành phố, nhận thức tư tưởng của công nhân, lao động, thanh thiếu niên, một bộ phận trí thức có những chuyển biến tích cực sâu sắc. Đông đảo nhân dân đã khẳng định cần thống nhất sớm nước nhà và đi lên chủ nghĩa xã hội, trong cuộc bầu cử quốc hội chung cho cả nước trong quận 99% cử triđi bầu cử, có nhiều tổ bầu cử cả trong đồng bào tôn giáo cử tri đi bầu 100%. Lao động là quyền lợi, nghĩa vụ nên tích cực tham gia phong trào lao động sản xuất, công tác, hàng vạn người tham gia lao động xã hội chủ nghĩa, làm công trình thuỷ lợi Thái Mỹ 3 tháng, 5785 người, 144.534 ngày công, đào 72 tuyến kinh dài 64km, đào 150.000 mét khối đất, vét 7.500 mét khối bùn, phát quang 9.000m2, 2.636 thanh niên xung phong xây dựng vùng kinh tế mới. Bước đầu quần chúng ý thức được quyền làm chủ tập thể và đã thực sự làm chủ trên một số mặt. Đông đảo nhân dân được phát động giáo dục đã nhiệt tình hưởng ứng và chấp hành nghiêm chỉnh các chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước. Qua các phong trào thi đua yêu nước đã có trên 100 đơn vị, trên 3.000 cá nhân xuất sắc, 102 thanh niên tiên tiến, 409 cháu ngoan Bác Hồ.

Những tiến bộ đó giúp cho quần chúng thông cảm được khó khăn của cách mạng, càng thấy được hậu quả của chiến tranh xâm lược và chế độ thực dân mới để lại. Đồng bào đã phát huy lòng yêu nước, tự lực tự cường cùng với cách mạng vượt qua những khó khăn thiếu thốn, xây dựng cuộc sống mới. Trước những hoạt động phản cách mạng đồng bào tỏ ra bình tĩnh hơn, tích cực tham gia gìn giữ an ninh trật tự, đòi cải tạo nhanh tư bản công thương nghiệp nhất là thương nghiệp, chuyển phần lớn thương nghiệp sang sản xuất, phân bổ lại lao động và dân cư, đưa làm ăn cá thể vào tập thể đi lên sản xuất lớn xã hội chủ nghĩa, xây dựng văn hoá mới, con người mới. Phong trào ngày càng đi vào chiều sâu, có khả năng phát triển thành cao trào cách mạng.

d. Hệ thống chuyên chính vô sản được xây dựng và đang kiện toàn:

Thực lực của hệ thống chuyên chính vô sản toàn quận có 68.342 người, chiếm 53,8% so độ tuổi tổ chức, nơi mạnh trên 70%, nới kém 35-40%.

Chân rết của hệ thống chuyên chính vô sản (tiểu tổ, tiểu đội) bám chặt nhân dân lao động, các giới, phát huy tác dụng, là nơi thừng xuyên tuyên truyền giáo dục, tập hợp, hướng dẫn q/c hành động cách mạng, đồng thời thu thập tâm tư nguyện vọng của q/c phản ánh lên trên. Kết quả về các mặt hoạt động cách mạng của phường đều quyết định nơi đây, từng hộ, từng người giác ngộ làm chủ được công việc của mình, phong trào cách mạng sẽ sôi nổi liên tục.

Qua phong trào, ta có hàng vạn cán bộ quần chúng trên các mặt công tác, gần 2.000 cốt cán, bồi dưỡng đối tượng phát triển đảng 234, hai năm qua phát triển 80 đảng viên chiếm 10,76% số đảng viên.

Đảng viên tại chỗ chiếm 19,16%, đảng viên chi viện chiếm 80,83%, đảng viên công an quân sự chiếm 47,66% đảng viên dân chính chiếm 36,48%, đảng viên hưu chiếm 15,84%, cán bộ cơ sở trở lên chiếm 48,6%, cán bộ trung cao cấp chiếm 8,4% cán bộ sơ cấp chiếm 34,02% số đảng viên, đảng viên có trình độ văn hoá từ cấp 2 lên đại học chiếm 57,4%. Đã đề bạt 19 cán bộ trung cấp, 103 cán bộ sơ cấp và cơ sở.

Chính quyền quận phường đã phát huy vai trò quản lý hành chính, quản lý kinh tế, quản lý xã hội, quản lý kinh tế đã có tiến bộ bước đầu. Nhân dân laođ ộng đã phát huy quyền làm chủ tập thể trên các mặt chính trị, giữ gìn an ninh trật tự, phân phối, sản xuất, văn hoá xã hội. Chi bộ phường đã xác lập quyền lãnh đạo trực tiếp công khai và toàn diện của Đảng ở cơ sở, thực hiện được ước mơ của Đảng bộ thành phố qua mấy mươi năm hoạt động bí mật. Bình quân mỗi chi bộ phường có 20 đảng viên, 5, 6 cán bộ sơ cấp, 8 phường có cán bộ sơ cấp làm bí thư.

Chi bộ phường đã được củng cố 2 đợt (giữa năm 1976 khi thành phố xếp còn 3 cấp, đầu năm 1977 sơ kết việc củng cố chi bộ để tiếp tục nâng lên). Chi bộ đã đề ra được nhiệm vụ chính trị và biết biến nghị quyết của chi bộ thành hành động cách mạng mạnh mẽ liên tục của quần chúng, giữ vững được sinh hoạt lệ, phát huy được tập thể dân chủ, tự phê bình và phê bình trong nội bộ và ra quần chúng 3 lần. Qua củng cố lần này chi bộ đã đi vào phân công cụ thể, qui định lề lối làm việc, lãnh đạo của chi bộ, chỉ uỷ. Chi bộ phường đã làm được vai trò hạt nhân lãnh đạo của hệ thống chuyên chính vô sản, phást huy tác dụng của hệ thống chuyên chính vô sản, đi sâu củng cố và phát triển chính quyền, đi vào chức năng quản lý Nhà nước, củng cố phát triển các đoàn thể CM, thành lập mặt trận, phát huy vai trò làm chủ tập thể của nhân dân laođ ộng. Sức chiến đấu của chi bộ to lớn, năng lực tổ chức và lãnh đạo của chi bộ phát triển trước nhiệm vụ của chi bộ phường đầy khó khăn và phức tạp. Chi bộ đã đi lần vào căn cơ nề nếp, bước đầu chủ động trong nhiệm vụ công tác của mình, biết kết hợp thi hành chỉ thị nghị quyết bên trên hoặc tình hình đột xuất ở địa phương đặt ra với tiến hành kế hoạch thường xuyên của chi bộ. Các ban phòng quận được củng cố tăng cường, đi vào chức năng nhiệm vụ, đi xuống cơ sở, bình quân mỗi ban phòng quận có 6, 7 cán bộ sơ cấp.

Thoái hoá về phẩm chất đạo đức cách mạng đã được ngăn chặn một mức. Đây là kết quả tổng hợp của nhiều mặt công tác và liên tục giải quyết trong qúa trình củng cố nâng chất phát triển thực lực cách mạng. Học tập đường lối chính sách của Đảng, kiểm điểm công tác, trách nhiệm, tác phong, đạo đức cách mạng, tiến hành tự phê bình phê bình từ trên xuống dưới, từ trong Đảng ra chính quyền, các đoàn thể cách mạng và công khai trước quần chúng rộng rãi. Đẩy mạnh công tác kiểm tra, thanh tra, kiểm sát, mở nhiều đợt quần chúng phê bình cán bộ đảng viên, góp ý kiến cho Đảng. Tập trung kiểm điểm một số vụ nổi cộm, sơ kết giáo dục chung, kết hợp tự giác tự phê bình của cán bộ đảng viên, phê bình của tập thể. Quần chúng phê bình, giới thiệu người tốt, loại người xấu, bầu cử dân chủ từ tiểu tổ lên phường, quận (thanh niên, phụ nữ). Đồng thời chăm sóc việc ăn ở, bệnh hoạn, đời sống riêng tư của cán bộ đảng viên. Quận uỷ lãnh đạo kiên quyết và khi giải quyết có lý có tình nhằm giáo dục sửa chữa, những trường hợp cố tình, nghiêm trọng có kỷ luật thích đáng. Có 4,4% cán bộ đảng viên bị kỷ luật trong đó có 2% cán bộ đảng viên bị cách chức, lưu lại và khai trừ.

“Những thắng lợi này bắt nguồn từ sự lãnh đạo đúng đắn của TW Đảng, của Thành uỷ và sự chi viện to lớn của bên trên và các nơi khác. Nhưng người trực tiếp tạo nên các biến đổi sâu sắc nhiều mặt ở thành phố là nhân dân lao động vừa thoát khỏi cảnh áp bức bóc lột và bước đầu thấy được vai trò của mình trong chế độ mới. Nhân dân lao động được sự dìu dắt của một đảng bộ thấm nhuần tinh thần cách mạng tiến công, đoàn kết nhất trí, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm, nắm vững tình hình và nhạy bén sáng tạo trong việc vận dụng và tổ chức thực hiện đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước”.

Tuy là một đảng bộ lắp ghép, cán bộ đảng viên ít hiểu biết nhau, ít hiểu biết quần chúng, tình hình khó khăn phức tạp, nhiệm vụ chính trị mới mẻ, mới quản lý chính quyền, quản lý kinh tế, quản lý xã hội, nhưng đảng bộ có quyết tâm cao, phát huy nhiệt tình cách mạng, nâng cao trách nhiệm, vừa chiến đấu công tác vừa xây dựng củng cố đảng bộ, đoàn kết thống nhất nội bộ, bám chặt quần chúng tuyên truyền phát động, tổ chức tập hợp lực lượng, đào tạo một đội ngũ cán bộ quần chúng tại chỗ đông đảo, phát triển đảng viên mới, không ngừng nâng cao quyền làm chủ tập thể của nhân dân lao động. Quận uỷ phát huy vai trò tích cực chủ động đồng thời hết sức tranh thủ sự chỉ đạo và chi viện của cấp trên; hợp đồng xã hội chủ nghĩa phát huy sức mạnh tổng hợp để hoàn thành nhiệm vụ. Quận uỷ coi trọng điều tra cơ bản nắm tình hình toàn diện trong quận, tập trung củng cố chi bộ cơ sở đặc biệt là chi bộ phường, đi lần vào lãnh đạo kinh tế, phát huy tác dụng hệ thống chuyên chính vô sản ở quận và phường. Chi bộ quyết tâm chiến đấu cao, tinh thần tổ chức kỷ luật tốt, đoàn kết thống nhất, gắn bó với quần chúng, hoàn thành nhiệm vụ, được quần chúng tin yêu càng phát triển nhiệt tình cách mạng, từng bước chi bộ tiến lên chủ động trong công tác. Chi bộ đi vào nhiệm vụ mới, đã làm được và làm có kết quả, vừa làm vừa học, vừa học vừa làm, đã không ngừng tiến lên, có sáng kiến và kinh nghiệm phong phú. Các ban của quận uỷ, các phòng của uỷ ban đã đi vào chức năng nhiệm vụ, tổ chức công tác tại quận, vừa xuống cơ sở xây dựng và hướng dẫn chuyên môn, góp phần tích cực điều tra cơ bản tình hình toàn quận.

Chúng ta phải khẳng định những ưu điểm và thành quả đã đạt được nhưng không chủ quan thoả mãn, xả hơi ngơi nghỉ, dẫm chân tại chỗ, không ngừng nâng cao tinh thần cách mạng tiến công, cách mạng triệt để, nâng cao trình độ năng lực tổ chức và quản lý cho kịp nhiệm vụ chính trị sắp tới, phát huy truyền thống đoàn kết nội bộ, quan hệ mật thiết với quần chúng, không ngừng phát huy vai trò làm chủ tập thể của nhân dân lao động.

II. KHUYẾT NHƯỢC ĐIỂM VÀ TỒN TẠI

a. Về khách quan:

1. Quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa, cơ cấu kinh tế què quặt lệ thuộc và tính tự phát, tản mạn của nền sản xuất nhỏ đang là những trở ngại lớn. Giai cấp tư sản bị đánh bại về chính trị, đang bị đánh bại về kinh tế nhưng lực lượng còn rất mạnh, ở quận 3 họ chiếm 0,94% số hộ lại chiếm 11,6% tổng số lao động, 72,6% tổng số vốn, 29,6% tổng số doanh thu. Họ hoạt động cầm chứng, doanh thu chưa bằng ¼ số vốn, vừa đấu tranh với ta vừa lôi kéo kinh tế cá thể, chi phối sản xuất và kinh doanh. Kinh tế cá thể quận 3 khá mạnh chỉ tính tiểu thương trung thương và tiểu chủ trung chủ chiếm 19,48% số hộ, chiếm 72,1% về lao động, 22,6% về vốn, 41,6% về doanh thu. Muốn cải tạo và xây dựng có kết quả, phải làm đảo lộn tương quan về kinh tế, quốc doanh và tập thể phải chiếm 70% trở lên.

2. Hậu quả của chiến tranh xâm lược và chủ nghĩa thực dân mới còn rất lớn trên các mặt. Ở quận 3 lao động còn sống bấp bênh, chưa có công ăn việc làm chiếm 26,7%, hàng năm có thêm 5.400 lao động phải giải quyết công ăn việc làm, phải nuôi hơn 4.000 nhân khẩu mới, 21.305 nguỵ quân, nhân viên nguỵ quyền cũ chiếm 10,53% dân số, còn 267 tên chưa phục hồi quyền công dân, 3.398 tên còn học tập cải tạo chiếm 1,78% dân số, 1527 người thuộc tệ nạn xã hội chiếm 1,41% dân số. Một bộ phận quần chúng mà chính sách chia rẽ dân tộc của thực dân cũ và mới trước đây chú ý lợi dụng như Thiên chúa có 38.438 giáo dân (40% là di cư) chiếm 18,68% dân số, đồng bào người Hoa có13.328 người chiếm 6,47% dân số, người Khmer là 1.001 người chiếm 0,48% dân số, 10.386 trí thức chiếm 5,04% dân số. Ngoài ra có 3.166 người nước ngoài chiếm 1,5% dân số, tăng gấp đôi so với năm 1974 (do người Campuchia sang).

3. An ninh chính trị và trật tự xã hội còn phải tiếp tục giải quyết trong nhiều năm trên cơ sở khôi phục và phát triển sản xuất, ổn định đời sống và thanh toán các tệ nạn xã hội. Giai cấp tư sản và các thế lực phản động vẫn chưa từ bỏ âm mưu phá hoại và ngăn cản đi lên chủ nghĩa xã hội của chúng ta.

b. Về chủ quan:

1. Về nhận thức, vì thiếu học tập nghiên cứu sâu về các vấn đề cơ bản của cách mạng xã hội chủ nghĩa và các nghị quyết lớn của Đảng nên một bộ phận cán bộ, đảng viên còn mơ hồ về cuộc đấu tranh giai cấp để giải quyết vấn đề “ai thắng ai” trong giai đoạn mới, mối quan hệ giữa cải tạo và xây dựng.

Chưa đánh giá hết phản ứng giai cấp của giai cấp tư sản và bọn thù địch nên bị chúng lừa gạt lợi dụng, có người bị chứng đẩy vào con đường thoái hoá hoặc biến chất.

Đối với nhân dân lao động, đánh giá có tiến bộ về mặt phong trào, chưa đúng mức về xây dựng lực lượng nên còn nhiều mắc mưu về tiêu chuẩn chính trị, còn lấy người ở các địa phương lhác đến thay, chưa thấy hết mặt tiêu cực về kinh tế của quần chúng tiểu tư sản.

Việc điều tra cơ bản nắm tình hình toàn diện đến nay đã có kết quả nhưng còn làm chậm, kết quả chưa đúng mức do nhận thức nắm tình hình để lãnh đạo còn yếu, chưa quyết tâm khắc phục khó khăn, một số ngành chuyên môn đơn thuần, chưa đi vào phong trào chung, chưa đi sâu vào ngành mình phụ trách.

2. Về tư tưởng, một số không ít cán bộ đảng viên giảm sút ý chí chiến đấu, tự tư tự lợi, thu vén cá nhân, chạy theo sinh hoạt vật chất. Một số cán bộ thoái hoá biến chất, tham ô, mua chuộc hoặc móc ngoặc cùng tư sản ăn cắp nguyên vật liệu, hàng hoá của Nhà nước.

Tư tưởng bản vị, cục bộ dùng quyền lợi, nguyên tắc kềm chế nhau, gây khó  khăn cho quần chúng, xâm phạm tài sản, tính mạng của nhân dân.

Tác phong lề lối làm việc mang nặng tính chất phân tán thành thói quen, quan liêu mạng lệnh, hình thức thủ tục giấy tờ phiền phức thành tệ.

3. Cơ cấu tổ chức chưa đáp ứng nhiệm vụ chính trị trong giai đoạn mới. Các ngành thiếu cán bộ quản lý, cán bộ khoa học kỹ thuật , không chú ý sử dụng cán bộ khoa học kỹ thuật mới giải phóng, cán bộ trẻ xuất thân từ phong trào. Ở cơ sở thì chưa xác nhận đầy đủ các cơ sở để tập hợp quần chúng vào tổ chức, hệ thống tổ chức chưa hợp lý và thông suốt, chi uỷ còn thiếu, phân công người chưa hợp lý, tiêu chuẩn các loại thực lực cách mạng và nguyên tắc thủ tục phát triển còn nhiều mắc mứu. Đội ngũ cán bộ đảng viên chưa được sử dụng và phát huy đúng mức. Công tác đào tạo bồi dưỡng cán bộ chưa đáp ứng yêu cầu.

4. Tổ chức thực hiện là khâu yếu, nhất là quản lý kinh tế, có chú ý khâu lưu thông phân phối nhưng chưa mở rộng lực lượng và nâng cao trình độ nghiệp vụ và quản lý, sản xuất thì quận phường chưa quan tâm lãnh đạo, các ngành hướng dẫn sản xuất thì chưa đi vào chức năng nhiệm vụ, chưa xuống cơ sở, chưa đi chỉ đạo sản xuất để rút kinh nghiệm. Giải quyết chậm chức năng, nhiệm vụ, phân cấp giữa thành và quận nội thành, phường tạo nhiều sơ hở trong quản lý, không phát huy được khả năng và tiềm lực, tư sản, kinh doanh ca 1thể, bọn xấu khai thác lợi dụng sơ hở làm ăn phi pháp và chống phá ta.

Những tồn tại khách quan rất lớn đặt thành nhiệm vụ công tác hàng đầu trong thời gian 2 năm tới.

Về chủ quan, ta có cả nhược điểm và khuyết điểm, nhược điểm cũng có thời gian mới khắc phục được nhưng ta phải nỗ lực khắc phục nhược điểm vàng nhanh và không để trở thành khuyết điểm. Về khuyết điểm ta có khuyết điểm về nhận thức, về tổ chức thì nghị quyết đại hội 4 và đại hội đại biểu thành phố lần thứ I soi sáng cho chúng ta. Nhưng khuyết điểm về tư tưởng, phẩm chất đạo đức cách mạng và nề nếp công tác cũ đã thành thói quen thì đảng bộ cần quan tâm khắc phục kiên quyết và nhanh chóng đặt thành vấn đề kiểm điểm thường xuyên trong các cấp uỷ và chi bộ.

III. NHẬN XÉT CHUNG:

Đại hội đại biểu đảg bộ thành phố lần thứ I nhận định dưới sự lãnh đạo của TW, được sự chi viện của cả nước, trong 2 năm qua toàn Đảng, toàn dân, toàn quân thành phố đã phát huy truyền thống cách mạng kiên cường, đoàn kết phấn đấu, nỗ lực vượt bậc, liên tục tiến công, khắc phục nhiều khó khăn thử thách, bước đầu thu được những thành tựu to lớn toàn diện và rút ra được những kinh nghiệm thực tiễn quý báu.

Với thành quả đạt được trong 2 năm qua, quận 3 cùng thành phố hoàn thành giai đoạn cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, khôi phục và phát triển kinh tế, ổn định một bước đời sống nhân dân. Những thắng lợi đó tạo điều kiện thuận lợi để sắp tới ta chuyển mạnh sang thời kỳ cải tạo xã hội chủ nghĩa và xây dựng chủ nghĩa xã hội.

Quận 3 cùng thành phố đang trên xu thế đi lên với nhiều khả năng triển vọng mới, chúng ta nhất định sẽ thắng lợi nhưng trên đây là một cuộc đấu tranh giai cấp gay go quyết liệt và phức tạp nhằm khắc phục những tồn tại rất to lớn mà trong 2 năm qua chúng ta mới khắc phục được một bước.

PHẦN II

NHIỆM VỤ, MỤC TIÊU CHỈ TIÊU, BIỆN PHÁP CÔNG TÁC TRONG HAI NĂM 1977-1978

I. QUÁN TRIỆT VỊ TRÍ, KHẢ NĂNG ĐẶC ĐIỂM TÌNH HÌNH THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH, PHƯƠNG HƯỚNG, NHIỆM VỤ, MỤC TIÊU CHUNG TỪ NAY ĐẾN HẾT NĂM 1980, NHIỆM VỤ, MỤC TIÊU CỤ THỂ HAI NĂM 1977-1978

a. Vị trí, khả năng, đặc điểm tình hình thành phố Hồ Chí Minh:

Thành phố Hồ Chí Minh là 1 trong 2 thành phố lớn nhất của cả nước trước mắt và tương lai vẫn là 1 trung tâm công nghiệp, 1 trung tâm văn hoá, 1 trung tâm giao dịch quốc tế của cả nước.

b. Phương hướng nhiệm vụ mục tiêu chung từ nay đến hết năm 1980.

“Trên cơ sở nắm vững chuyên chính vô sản, phát huy quyền làm chủ tập thể của nhân dân lao động, tiến hành đồng thời 3 cuộc cách mạng: Cách mạng về quan hệ sản xuất, khoa học kỹ thuật, tư tưởng và văn hoá, trong đó cách mạng khoa học kỹ thuật là then chốt, tập trung cao độ mọi lực lượng để hoàn thành cải tạo xã hội chủ nghĩa đối với công thương nghiệp và nông nghiệp, tổ chức lại sản xuất và phân phối theo phương hướng sản xuất lớn xã hội chủ nghĩa, tiến hành công nghiệp hoá xã hội chủ nghĩa, xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội, từng bước xây dựng 1 thành phố công nghiệp có cơ cấu kinh tế công nông nghiệp, thực hiện phân bổ lại lực lượng lao động, bố trí lại dân cư một cách hợp lý, ra sức khôi phục và phát triển sản xuất, thanh toán nạn thất nghiệp, ổn định và từng bước cải thiện đời sống của nhân dân, phát triển sự nghiệp giáo dục, văn hoá, xã hội, xây dựng con người mới xã hội chủ nghĩa, quét sạch về cơ bản di hại của nền văn hoá cũ, thanh toán về cơ bản tệ nạn xã hội, xoá bỏ chế độ người bóc lột người, từng bước xoá bỏ nghèo nàn lạc hậu, không ngừng đề cao cảnh giác cách mạng, thường xuyên củng cố quốc phòng, giữ gìn an ninh chính trị và trật tự xã hội, chuẩn bị mọi điều kiện để cùng cả nước bước vào thời kỳ xây dựng chủ nghĩa xã hội mạnh mẽ, toàn diện”

Để thực hiện phương hướng nhiệm vụ và mục tiêu chung nêu trên, chúng ta nhằm giải quyết 2 nhiệm vụ chủ yếu sau đây:

1. Đẩy mạnh cải tạo xã hội chủ nghĩa, ra sức xây dựng chế độ mới, nền kinh tế mới, nền văn hoá mới và con người mới xã hội chủ nghĩa.

2. Sẵn sàng đập tan bọn phản động ngóc đầu dậy và sự phản kháng của giai cấp bóc lột, ngăn chặn trừ những hành động phá hoại đời sống công cộng, bảo vệ tốt thành quả CM, giữ vũng an ninh chính trị, trật tự xã hội.

c. Mục tiêu cụ thể 2 năm 1977-1978:

1. Tập trung lực lượng tiến hành cải tạo xã hội chủ nghĩa.

2. Phân bố lực lượng lao động hợp lý giữa công nghiệp và nông nghiệp, bố trí dân cư hợp lý giữa các vùng, vận động và tổ chức nhân dân hồi hương và đi xây dựng kinh tế mới.

3. Ra sức khôi phục và phát triển sản xuất, ổn định và cải thiện đời sống nhân dân.

4. Đẩy mạnh cách mạng tư tưởng và văn hoá, khoa học kỹ thuật.

5. Ra sức tăng cường và kiện toàn chính quyền nhân dân, đẩy mạnh công tác vận động quần chúng, bảo đảm thực hiện và phát huy quyền làm chủ tập thể của nhân dân lao động trong mọi ngành hoạt động.

6. Củng cố xây dựng Đảng thật vững mạnh về chính trị, tư tưởng và tổ chức, gấp rút nâng cao năng lực lãnh đạo và năng lực tổ chức thực hiện của Đảng bộ lên kịp yêu cầu của nhiệm vụ chính trị trong giai đoạn mới.

II. VỊ TRÍ VAI TRÒ VÀ KHẢ NĂNG ĐẶC ĐIỂM CỦA QUẬN:

a. Trong thời kỳ quá độ, tình hình chưa ổn định, công cuộc cải tạo xã hội chủ nghĩa và xây dựng chủ nghĩa xã hội to lớn, địa phương có trách nhiệm chăm sóc đời sống mọi mặt của nhân dân, đại hội đại biểu lần thứ nhất của thành phố xác nhận vị trí vai trò chức năng nhiệm vụ của quận nội thành như sau:

Đối với thành phố cần tăng cường quản lý theo ngành đi đôi với quản lý theo cấp toàn diện, chống khuynh hướng quản lý theo ngành, tách rời quản lý theo cấp và ngược lại. Quận nội thành tuy không thực hiện hoàn toàn chức năng của một cấp nhà nước quản lý kế hoạch toàn diện và có ngân sách (như huyện ngoại thành) nhưng là đơn vị hành chính kinh tế, có mức quản lý kinh tế nhất là tiểu thủ công nghiệp, tức là có phần kinh doanh theo kế hoạch của thành phố, có phần ngân sách do Thành phố phân phối. Có như thế mới bảo đảm kế hoạch cải tạo và quận mới có điều kiện chủ động trong việc chịu trách nhiệm chăm lo đời sống mọi mặt của nhân dân trong quận mình. Phường cũng cần được phân công phân cấp quản lý một số mặt công tác và cơ sở kinh tế văn hoá thích hợp.

b. Quận 3 ở trung tâm thành phố, có vị trí quan trọng về chính trị, văn hoá và khá quan trọng về kinh tế. Cơ sở kinh tế tư nhân khá lớn, hạng 6 số đơn vị sản xuất kinh doanh, hạng 3 số vốn đầu tư, hạng 6 số lao động toàn thành phố. Trong quận tư bản tư doanh có 360 hộ, chiếm 0,94% tổng số hộ trong quận, 2.238 lao động chiếm 11,6% tổng số lao động, 48.805.000 đồng vốn chiếm 72,6% tổng số vốn, doanh thu 12.662.000 đồng chẵn chiếm 29,6%. Khu vực cá thể có 7.422 hộ, chiếm 19,48% tổng số hộ trong quận, 13.843 lao động, chiếm 72,1% tổng số laođ ộng, 15.156.000 đồng vốn, chiếm 28,6% tổng số vốn, doanh thu 17.840.000 đồng, chiếm 41,6%. Về văn hoá giáo dục có 5 trong 8 trường đại học, 9 trong 53 trường phổ thông cấp 3 và là những trường lớn trong thành phố, có 10.386 trí thức chiếm 5,04% dân số trong quận.

c. Dân số hạng 4, mật độ dân số hạng 2, lao động hạng 6 toàn thành phố. Quận có trên 30% số hộ, 26,9% số lao động làm trong các xí nghiệp và cơ quan Nhà nước (chưa kể số hộ tập thể và cơ quan), 21,8% trong độ tuổi lao động còn đi học. Quận phải giải quyết công ăn việc làm cho 27.415 người sống bấp bênh hoặc chưa có công ăn việc làm, chiếm 26,7% dân số và hàng năm phải giải quyết công ăn việc làm cho 5.400 lao động mới, nuôi dưỡng trên 4.000 nhân khẩu mới. Mật độ dân số quá cao, có nhiều khu nhà ổ chuột và nhà sàn, phải bố trí lại dân cư. Hậu quả chiến tranh xâm lược và chủ nghĩa thực dân mới, an ninh chính trị và trật tự xã hội rất lớn, còn phải giải quyết nhiều năm.

III. NHIỆM VỤ, MỤC TIÊU, CHỈ TIÊU, BIỆN PHÁP CÔNG TÁC CỦA QUẬN 3 TRONG 2 NĂM 1977-1978

Từ phương hướng, nhiệm vụ, mục tiêu chung từ nay đến hết năm 1980 và từ nhiệm vụ mục tiêu cụ thể 2 năm 1977-1978 của nghị quyết đại hội đại biểu lần I của Đảng bộ thành phố, từ vị trí vai trò và khả năng, đặc điểm của địa phương là 1 quận nội thành, quận 3 xác nhận 6 nhiệm vụ, mục tiêu, chỉ tiêu, biện pháp công tác của quận trong 2 năm 1977-1978 như sau:

Công tác thứ nhất:

CẢI TẠO QUAN HỆ SẢN XUẤT CŨ, XÂY DỰNG QUAN HỆ SẢN XUẤT MỚI XÃ HỘI CHỦ NGHĨA, KHÔI PHỤC VÀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ, ỔN ĐỊNH VÀ TỪNG BƯỚC CẢI THIỆN ĐỜI SỐNG NHÂN DÂN LAO ĐỘNG

Chúng ta phải hoàn thành công tác cải tạo trước năm kết thúc kế hoạch 5 năm lần thứ 2 (1976-1980) để có quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa đồng nhất về cơ cấu kinh tế thống nhất cùng cả nước để tiến nhanh và tiến vững chắc lên CNXH.

Do đó phương hướng cải tạo và xây dựng kinh tế ở thành phố từ đây đến năm 1980 là:

“Kết hợp chặt chẽ việc khôi phục và phát triển sản xuất với việc cải tạo các thành phần kinh tế phi xã hội chủ nghĩa. Ra sức phát huy năng lực sản xuất hiện có của các ngành công nghiệp, tiểu công nghiệp và thủ công nghiệp; đồng thời đẩy mạnh phát triển nông nghiệp, gồm cả chăn nuôi, nghề cá; tăng cường lực lượng thương nghiệp quốc doanh và hợp tác xã; cải tiến công tác quản lý kinh tế nhằm tổ chức lại sản xuất theo hướng sản xuất lớn xã hội chủ nghĩa; giải quyết căn bản nạn thất nghiệp, tạo đủ công ăn việc làm cho nhân dân lao động, tăng năng xuất lao động, tăng tích luỹ cho Nhà nước, ổn định và bước đầu cải thiện đời sống nhân dân”.

Cải tạo quan hệ sản xuất cũ, xây dựng quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa gắn rất chặt với khôi phục và phát triển kinh tế. Đây là công tác có tầm quan trọng hàng đầu trong toàn bộ công tác của đảng bộ và nhân dân thành phố.

Theo sự phân công phân cấp giữa thành phố, các quận nội thành và phường thì thành phố cải tạo kinh tế cá thể. Các cơ sở kinh tế đều ở quận phường nên quận phường có trách nhiệm phục vụ trên cải tạo tư sản và trên có cải tạo tốt tư sản, xây dựng ngành mạnh sẽ giúp dưới cải tạo kinh tế cá thể tốt.

a. Cải tạo và xây dựng công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp:

Cải tạo và xây dựng công nghiệp sẽ thực hiện dưới 2 hình thức quốc doanh và công tư hợp doanh, kết hợp chặt chẽ giữa cải tạo và tổ chức lại sản xuất, hình thành các ngành chuyên môn hoá, tăng cường hợp tác hoá sản xuất, tăng sản lượng mở rộng mặt hàng, nhằm chủ yếu vào các ngành nghề có truyền thống và có điều kiện thuận lợi như cơ khí phục vụ nông nghiệp, chế tạo, sửa chữa, kim khí tiêu dùng, vật liệu xây dựng, hoá chất, chế biến lương thực thực phẩm, đánh cá biển, dệt da may mặc, cao su, đồ nhựa, thuỷ tinh, sành sứ, đồ gỗ, đồ dùng học tập giảng dạy, dụng cụ y tế, thuốc trị bệnh, thể dục thể thao, đồ dùng văn hoá, mỹ nghệ phẩm… đặc biệt coi trọng các ngành nghề sử dụng nhiều vật tư, nguyên vật liệu trong nước.

Cải tạo và xây dựng tiểu công nghiệp và thủ công nghiệp là sắp xếp, tổ chức các ngành tiểu thủ công nghiệp, đi vào con đường làm ăn tập thể dưới các hình thức: tổ sản xuất, tập đoàn sản xuất và HTX tiểu thủ công nghiệp, hình thành các nhóm sản phẩm, những vệ tinh của các xí nghiệp trung tâm hoạt động theo qui hoạch và kế hoạch của Nhà nước.

Quận 3 cùng thành phố cải tạo 115 hộ tư sản công nghiệp đồng thời quận tập trung cải tạo các đơn vị tiểu thủ công nghiệp. Hiện đang hoạt động 1503 đơn vị trong đó loại công nghiệp 1.043 đơn vị, tiểu công nghiệp 501 đơn vị, thủ công nghiệp 107 đơn vị, bao gồm cơ khí chế tạo, sửa chữa 646 đơn vị, hoá chất 50 đơn vị, chế biến gỗ giấy thuỷ tinh sánh sứ 73 đơn vị, chế biến lương thực thực phẩm 162 đơn vị, dệt da may mặc 580 đơn vị, in và sản xuất văn phòng phẩm, văn hoá phẩm 100 đơn vị, sản xuất các loại khác 80 đơn vị. Có 6.745 lao động trong đó có 403 có trình độ kỹ sư, 1.023 có trình độ kỹ thuật trung cấp, 1.206 lành nghề. Có 44.000.000 vốn, vốn cố định 28.000.000, vốn lưu động 16.000.000. Có 7.114 thiết bị trị giá 19 triệu đồng, công cụ cơ khí 1.207, các loại máy chuyên dùng 5.907 chiếc. Có trên 7.000 mét vuông nhà xưởng, sản xuất, nhà kho. Tổng sản lượng hàng năm 12 triệu đồng.

Yêu cầu chỉ tiêu năm 1977:

1. Đối với các cơ sở kinh tế thuộc loại công nghiệp:

Hiện có 1.043 đơn vị đang hoạt động (trong đó 1.037 đơn vị sản xuất bằng nguyên vật liệu trong nước) là ngành lớn nhất, có vị trí chỉ đạo mọi hoạt động của toàn ngành công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp quận.

Có 24 tư sản, 102 tiểu chủ và 917 kinh tế gia đình.

Đối với các loại xí nghiệp công nghiệp tư nhân, hình thức cải tạo chủ yếu là đưa vào tổ sản xuất theo nhóm, sản phẩm và tính chất kinh tế kỹ thuật theo ngành nghề chuyên môn hoá. Chuyển 4 đơn vị tư bản tư doanh thành công từ hợp doanh 4 đơn vị tiểu chủ trên và 5 đơn vị gia đình vào trong 3 tổ sản xuất.

Xây dựng, củng cố lại 3 tổ sản xuất theo qui mô vừa 200 lao động và trên 200.000 đồng trị giá vốn đầu tư của một tổ sản xuất, sản lượng/năm kế hoạch khoảng 200.000 đồng.

Số còn lại 1.030 đơn vị xí nghiệp công nghiệp (bao gồm tư bản tư doanh 20, tiểu chủ 98, gia đình 912 đơn vị) khuyến khích, hướng dẫn quản lý kế hoạch sản xuất theo qui hoạch chung của quận. Phát triển năng lực sản xuất hằng năm trên 1 triệu đồng sản lượng, đảm bảo ổn định sản xuất 2.000 lao động của quận.

Hướng trọng tâm vào tổ chức lại ngành công nghiệp cơ khí địa phương giữ vị trí then chốt trong công nghiệp quận.

2. Các ngành nghề tiểu công nghiệp:

Chuyển lên tổ sản xuất 15 đơn vị tiểu chủ và 16 đơn vị gia đình.

Chuyển lên qui mô hợp tác xã tiểu công nghiệp 11 tổ sản xuất thành 5 HTX, cơ sở lao động trung bình 300 người sản xuất và sản lượng năm khoảng 300.000 đồng 1 HTX (trong đó, xuất khẩu trị giá trên 200.000 đồng).

Tạo mọi điều kiện cho 20 tổ sản xuất để có cơ sở trong những năm tới tiến lên HTX.

Đẩy mạnh 530 đơn vị tiểu công nghiệp cá thể đi vào ổn định, sản xuất từng bước theo kế hoạch nhà nước, giúp đỡ họ đi vào sản xuất theo hướng hợp đồng, nhận gia công cho nhà nước.

3. Các ngành nghề thủ công nghiệp:

Chuyển 42 cơ sở sản xuất thủ công nghiệp cá thể (thuê mướn và gia đình) lên tổ sản xuất hoặc HTX thủ công.

Lập 4 HTX thủ công với 3.200 lao động từ 5 tổ sản xuất hiện có.

Tiếp tục củng cố 11 tổ sản xuất đang hoạt động.

Hướng trọng tâm cải tạo các ngành nghề thủ công nghiệp là đưa vào HTX và tổ sản xuất, nhưng cần chú ý đến một số ngành nghề xuất khẩu truyền thống có vị trí của thành phố, có thể họ sản xuất gia đình theo yêu cầu kế hoạch của nhà nước nhằm giữ truyền thống mặt hàng không bị mai một (thủ công mỹ nghệ, khảm xà cừ…)

4. Về lao động, trên cơ sở cải tạo và tổ chức lại sản xuất, phải gắn liền với yêu cầu phân bố lao động của quận theo hướng qui hoạch chung.

Trong năm 1977, ngành có trách tổ chức lại sản xuất bảo đảm thu hút thêm 4.000 lao động địa phương vào sản xuất công nghiệp, đưa lao động công nghiệp ở các ngành nghề trong năm lên 10.000 người (chủ yếu thu hút vào các tổ hợp, hợp tác xã).

5. Về mặt hàng và sản lượng:

Phải giữ vững mặt hàng công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp vốn có nhất là các mặt hàng xuất khẩu, cơ khí.

Sản lượng toàn ngành năm 1977 đạt trên 8 triệu đồng giá trị, trong đó gia 1trị hàng xuất khẩu 4,6 triệu đồng.

Đồng thời coi trọng việc quản lý, giá cả, quản lý thu mua sản phẩm, chất lượng sản phẩm cho tốt.

6. Phân công quản lý, quận phụ trách HTX, phường phụ trách tổ hợp, sản xuất gia đình và cá thể.

Năm 1978, ngành công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp ngoài việc tiến hành liên tục công tác cải tạo các cơ sở tiểu thủ công nghiệp tư nhân theo nội dung chính sách cải tạo của Nhà nước phải đồng thời củng cố, xây dựng và từng bước hoàn thiện công tác tổ chức, quản lý các mặt hàng sản xuất các đơn vị tập thể. Cụ thể:

Năm 1978, xây dựng được 15 HTX thủ công nghiệp (gồm 3 HTX công nghiệp, 7 HTX tiểu công nghiệp và 5 HTX thủ công nghiệp) thu hút 6.700 lao động.

Tổ chức thành 35 tổ sản xuất (bao gồm 5 tổ sản xuất công nghiệp; 20 tổ sản xuất tiểu thủ công nghiệp và 10 tổ sản xuất thủ công nghiệp) thu hút 3.000 lao động.

Toàn ngành thu hút khoảng 12.000 lao động (tăng hơn năm 1977 là 2.000 lao động).

Duy trì vững chắc 52 mặt hàng chính, hoàn chỉnh, trong đó xuất khẩu 38 mặt hàng.

Tổng giá trị sản lượng toàn ngành trong năm kế hoạch là 19 triệu đồng, trong đó giá trị hàng xuất khẩu 13 triệu đồng.

b. Cải tạo và xây dựng ngành thương nghiệp:

Trong 2 năm 1977-1978 ngành thương nghiệp phải: xoá bỏ về cơ bản thương nghiệp tư bản chủ nghĩa, chuyển tư sản thương nghiệp và một bộ phận tiểu thương sang sản xuất, đồng thời tích cực xây dựng thương nghiệp xã hội chủ nghĩa nhằm làm cho thương nghiệp xã hội chủ nghĩa có khả năng chi phối và điều khiển được thị trường. Đối với thương nghiệp tư nhân: chuyển tư sản thương nghiệp sang các ngành sản xuất, chế biến, xây dựng; trưng mua, hoặc trưng thu những hàng hoá, những trang thiết bị và phương tiện sản xuất và kinh doanh, sử dụng số người có nghiệp vụ, kỹ thuật và năng lực quản lý. Không áp dụng hình thức công tư hợp doanh trong thương nghiệp.

Đối với tiểu thương: Đến hết năm 1978 chuyển một bộ phận tiểu thương sang sản xuất. Trước hết là nhằm vào những người buôn bán trao tay, chuyên mắt mối, đến những trung tiểu thương buôn bán những mặt hàng thuộc diện Nhà nước, quản lý. Những người tiểu thương được phép tạm thời buôn bán, phải đăng ký kinh doanh, tập hợp lại dưới các hình thức thích hợp và hoạt động trong phạm vi luật pháp nhà nước.

Đối với thương nghiệp xã hội chủ nghĩa: Nhiệm vụ chủ yếu của thương nghiệp xã hội chủ nghĩa là tổ chức hợp lý việc lưu thông phân phối hàng hoá, phục vụ tốt đời sống thúc đẩy phát triển sản xuất, mở rộng phân công lao động, chống tư tưởng kinh doanh đơn thuần vì mục đích lợi nhuận.

Đẩy mạnh việc xây dựng màng lưới thương nghiệp quốc doanh đủ sức nắm trọn khâu bán buôn, và cùng hệ thống thương nghiệp HTX chiếm đại bộ phận thị trường bán lẻ, nhất là những mặt hàng thiết yếu đến đời sống và sản xuất.

Quận 3 cùng thành phố cải tạo 115 hộ tư sản thương nghiệp đồng thời quận tập trung cải tạo các đơn vị tiểu thương. Hiện có 3.577 đơn vị buôn bán nội thương, trong đó bán buôn 128 đơn vị, bán lẻ 2.243 đơn vị, ăn uống 1.160 đơn vị. ở các ngành hàng chuyên doanh: Bách hoá tổng hợp 498 hộ, vải sợi may mặc 99 đơn vị, vật liệu xây dựng và chất đốt 50 hộ, điện máy 37 hộ, lương thực 35 hộ, thực phẩm và nông sản 292 hộ, dược phẩm y tế 75 hộ, sách báo tạp chí 59 hộ, các loại khác 934 hộ. Có 5.541 lao động, trong đó 33 lao động có kỹ thuật chuyên môn đại học, 48 lao động kỹ thuật trung cấp. Vốn đầu tư trên 4 triệu đồng (trong đó trị giá vốn hàng hoá tồn kho trên 1 triệu đồng). Có trên 17.000 m2 cửa hàng kinh doanh. Năm 1975, tổng mức lưu chuyển hàng hoá khoảng 8 triệu đồng.

Yêu cầu chỉ tiêu năm 1977:

Về cải tạo: Xoá bỏ, chuyển vào sản xuất 1.900 hộ kinh doanh. Chuyển sang sản xuất công nông nghiệp 1.700 lao động (trong đó chuyển sản xuất tiểu thủ công nghiệp 700 laođ ộng; đi kinh tế mới 1.000 lao động).

Xây dựng: Đến cuối năm 1977, 37 cửa hàng quốc doanh bán sĩ và lẻ, 125 cửa hàng HTX tiêu thụ phường. Tăng cường lực lượng lao động lên 1.825 người (trong đó 750 cán bộ công nhân viên quốc doanh, 1.075 lao động khu vực HTX tiêu thụ phường). Tổng mức hàng hoá lưu chuyển trên thị trường quốc doanh và HTX là 22,8 triệu đồng. Đảm bảo hàng hoá đầu người 120 đồng/năm.

Mục tiêu cụ thể: Xoá bỏ thương nghiệp tư bản chủ nghĩa 14 hộ chuyển sang sản xuất công nghiệp 29 lao động. Xoá bỏ bán sỉ tư nhân 115 hộ, chuyển sang sản xuất tiểu thủ công nghiệp 184 lao động. Chuyển 121 hộ bán lẻ 185 lao động sản xuất hẳn tiểu công nghiệp, vận tải, 50% số hộ còn lại (1.116 hộ) 1.321 lao động đi xây dựng vùng kinh tế mới (800 hộ 1000 lao động) sang tiểu thủ công nghiệp (200 hộ 300 lao động).

Cải tạo theo ngành hàng bán lẻ: Thực phẩm 100 hộ 106 lao động, đồ dùng hàng ngày 200 hộ 380 lao động, may mặc 51 hộ 55 lao động, vật liệu xây dựng 30 hộ 40 lao động, điện máy 25 hộ 30 lao động, các loại khác 710 hộ 710 lao động.

Ngành ăn uống công cộng, chuyển sản xuất 500 hộ 1000 lao động (chú ý tập trung các ngành giải khát phục vụ).

Số hộ còn lại phải là những đơn vị kinh doanh các mặt hàng không thiết yếu với đời sống nhân dân, qui mô nhỏ, thành phần chính trị không có vấn đề lớn sẽ được quan thương nghiệp nhà nước cấp đăng ký và quản lý, hướng dẫn kinh doanh theo chính sách, kế hoạch thống nhất của Nhà nước.

Những người buôn bán nhỏ lưu động vận động khoảng 10.000 lao động đi kinh tế mới.

Đi đôi với cải tạo thương nghiệp, đồng thời tập trung giải quyết tốt 4 mặt công tác sau đây:

Xây dựng, phát triển thêm mạng lưới phục vụ thương nghiệp quốc doanh và hình thức HTX tiêu thụ phường:

Quốc doanh 8 cửa hàng và 9 kho hàng chuyên doanh mặt hàng theo ngành vừa bán sỉ vừa bán lẻ, qui mô cỡ 3 triệu đồng, doanh số bán ra (bán sĩ khoảng 1,2 triệu, bán lẻ khoảng 1,8 triệu đồng).

HTX tiêu thụ phường mở rộng mỗi phường 5 điểm cửa hàng bán lẻ cho nhân dân địa phương: cửa hàng bách hoá, thực phẩm tươi sống và công nghệ, rau cá, chất đốt và ăn uống công cộng.Tăng cường lực lượng hàng hoá cả về số lượng và loại mặt hàng nhiều hơn năm trước. Đảm bảo tổng mức lưu chuyển hàng hoá bán lẻ của thương nghiệp quốc doanh và HTX chiếm khoảng 70% mức bán lẻ các mặt hàng thiết yếu trên thị trường xã hội.

Củng cố, tăng cường lực lượng cán bộ nhân viên đủ số lượng và chất lượng chính trị bảo đảm phục vụ cho ngành theo hướng phát triển cơ sở, yêu cầu quản lý ngành (khoảng 200 cán bộ, nhân viên).

Tiến hành qui hoạch, sắp xếp lại 3 khu chợ chính Bàn Cờ, Vườn Chuối và Trương Minh Giản. Các chợ còn lại, không thiết yếu phải giải toả ngay trong năm 1977.

Năm 1978:

Về cải tạo: Chuyển 1.100 hộ 1.200 lao động vào sản xuất tiểu thủ công nghiệp, nông nghiệp và các ngành sản xuất vật chất khác.

Về xây dựng: Phấn đấu đến cuối năm 1978 tăng mạng lưới thương nghiệp quốc doanh lên 49 cửa hàng qui mô tương đối lớn với đầy đủ các ngành hàng hoá chuyên doanh. Tăng lực lượng kinh doanh thương nghiệp quốc doanh 1.200 người. Bảo đảm tổng mức lưu chuyển hàng hoá trên thị trường xã hội chủ nghĩa là 23 triệu đồng. Đưa quỹ hàng hoá tính bình quân 1 đầu người tiêu dùng là 150 đồng/năm.

Mục tiêu cụ thể:

Số thương nghiệp tư nhân còn lại năm 1977 trên 2.000 hộ 2000 lao động cần vận động chuyển sản xuất 50% số hộ, 50% số hộ còn lại đi vào kinh doanh dưới sự quản lý, hướng dẫn giá cả, thuế khoá, mặt hàng kinh doanh.

Thương nghiệp xã hội chủ nghĩa, quốc doanh và HTX tiếp tục mở rộng màng lưới thương nghiệp quốc doanh thêm 12 cửa hàng, 10 kho hàng, đưa mức lưu chuyển hàng hoá trên 23 triệu đồng theo năm kế hoạch (tăng hơn năm 1977 5% tổng mức lưu chuyển hàng hóa; tăng bình quân sức mua đầu người khoảng 10%) vừa tiến hành củng cố, hoàn thiện khâu tổ chức lực lượng lưu thông phân phối trên từng khu vực dân cư thích hợp; chính sách quản lý hàng hoá, phương thức phân phối hợp lý, công bằng theo qui luật xã hội chủ nghĩa.

Hướng chính là thươn gnghiệp quốc doanh của quận quản lý theo hành chính, kinh tế kết hợp với quản lý kinh doanh. Trên cơ sở đó làm tốt công tác thu mua, nắm nguồn hàng công nông nghiệp địa phương thông qua hợp đồng 2 chiều theo kế hoạch nhà nước. Thươg nghiệp quốc doanh phải có kế hoạch, chế độ cụ thể, hỗ trợ cho hệ thống thương nghiệp HTX tiêu thụ làm tốt 3 chức năng: đại lý bán lẻ quốc doanh, thu mua cho nhà nước và tự doanh những mặt hàng ngoài diện nhà nước quản lý, làm trợ thủ đắc lực cho thương nghiệp quốc doanh để hoàn thành chức năng, nhiệm vụ kinh doanh xã hội chủ nghĩa.

c. Cải tạo và xây dựng một số ngành kinh doanh khác:

1. Giao thông vận tải và bưu điện:

Trong 2 năm 1977-1978 sẽ xoá bỏ quyền chiếm hữu tư bản chủ nghĩa về phương tiện giao thông vận tải 86 hộ tư sản, cải tạo lối làm ăn cá thể của 1.062 hộ, xây dựng màng lưới GTVT xã hội chủ nghĩa quốc doanh và công tư hợp doanh (cả hàng hoá và khách) đủ sức chi phối toàn ngành, đảm bảo qúa trình xuyên suốt từ khâu phục vụ sản xuất đến lưu thông phân phối, phục vụ đời sống nhân dân, gắn chặt với bảo vệ an ninh trật tự.

Quận tổ chức HTX với nhiều qui mô khác nhau cho các loại xe vận tải nhẹ và đường ngắn, sớm đưa lực lượng vận tải thô sơ vào con đường hợp tác hoá với những hình thức thích hợp, bảo đảm vận tải hàng hoá và khách trong quận của quốc doanh tập thể và nhân dân, đồng thời góp sức xây dựng lực lượng vận tải hàng hoá và khách toàn thành.  Quận lập 1 HTX 130 xe ba gác máy, 1 HTX 120 xe cyclo máy, 1 HTX xe lam, lập 2 tổ hợp qui mô toàn quận 2 loại xe cyclo đạp và ba gác đạp. Tổ chức lại và quản lý tốt 47 cơ sở sửa chữa.

Coi trọng việc bảo quản và sửa chữa phương tiện duy trì bảo dưỡng thường xuyên các tuyến đường trong quận được phân công nhất là ở các khu lao động. Xây dựng mạng lưới thông tin bưu chính đến phường, đảm bảo thông tin liên lạc thông suốt, nhanh chóng, bí mật, an toàn.

2. Xây dựng cơ bản:

Trong 2 năm 1977-1978 phải xoá bỏ chiếm hữu tư bản chủ nghĩa và xoá bỏ bóc lột trong ngành thầu xây dựng (quận 3 có 17 hộ tư sản), phát triển lực lượng xây dựng quốc doanh gồm cả công nghiệp xây dựng, công nghiệp sản xuất vật liệu xây dựng. Tiến hành công tư hợp doanh ngay đối với các công ty tư nhân, các nhà thầu có trang bị về kỹ thuật. Tổ chức HTX xây dựng đối với 24 nhà thầu nhỏ (tiểu chủ). Sử dụng các kiến trúc sư và kỹ sư làm tư vào công việc thiết kế xây dựng của Nhà nước bằng các hình thức thích hợp (Quận 3 có 127 người có trình độ đại học, 186 người có trình độ trung cấp, 173 người có tay nghề giỏi). Khuyến khích tư nhân bỏ vốn, kỹ thuật vào đầu tư phục vụ khôi phục và phát triển sản xuất, cải thiện đời sống nhân dân.

Đầu tư để phát triển sự nghiệp giáo dục, y tế, nghiên cứu khoa học và giải quyết tệ nạn xã hội, coi trọng những công trình công cộng cho thiếu nhi như nhà văn hoá, câu lạc bộ, mẫu giáo, nhà trẻ.

3. Quản lý nhà đất:

Trong 2 năm 1977-1978 hoàn thành cải tạo 6 công ty, 1 hiệp hội, 293 tư nhân kinh doanh nhà đất nhằm xoá bỏ kinh doanh bóc lột và chiếm cứ bất hợp lý, thực hiện chế độ nhà nước quản lý thống nhất số lượng nhà đất trong toàn thành phố, phân phối bố trí lại để sử dụng một cách hợp lý.

Đối với nhà cửa của tư sản mại bản, nguỵ quân nguyệ quyền đầu sỏ ác ôn vơ vét bóc lột nhân dân mà có, các tổ chức phản động do đế quốc Mỹ và chư hầu đặt ra dưới bất cứ hình thức nào để tiếp tay xâm lược đều bị tịch thu hoặc nhà nước tạm thời quản lý. Quận có khoảng 4.000 hộ, tập trung ở 3 phường Hiền Vương, Trương Minh Giảng, Trần Quang Diệu cũ. Phòng Nhà đất chỉ đạo điểm ở phường Hiền Vương cũ.

Đối với nhà cửa của tư sản kinh doanh nhà đất gồm nhà ở, cửa hàng, bệnh viện, trường học, rạp hát… nhà nước sẽ trưng thu, trưng mua hoặc cho phép hiến tuỳ theo từng trường hợp Nhà nước bảo hộ các nhà thờ, chùa chiền, thánh thất dùng vào việc thờ cúng, hành đạo.

Đối với khách sạn, ngoài các đối tượng tịch thu, trưng thu Nhà nước có thể tiến hành công tư hợp doanh bằng cách trả lãi cố định cho các nhà tư sản, một số trường hợp có thể cho hiến. (Quận 3 có 3 khách sạn).

Cùng thành phố điều chỉnh chổ ăn, ở làm việc của các cơ quan, đơn vị, bố trí lại nhà ở cho cácn bộ, công nhân viên chức theo tiêu chuẩn chế độ thống nhất; sắp xếp sử dụng hợp lý số nhà trong diện cải tạo, mua lại nhà của nhân dân đi vùng kinh tế mới, sửa chữa các nhà hư hỏng, hoàn thành các nhà đang xây dựng dở dang để giải quyết cho công nhân, lao động chưa có nhà ở, từng bước giải quyết triệt để các nhà ổ chuột và ven kinh rạch.

Đất chôn cất người chết do Nhà nước bảo đảm và qui định, chấm dứt nạn tư nhân cho mướn đất chôn cất.

4. Tài chính, thuế, ngân hàng, giá cả:

Đưa công tác quản lý tài chính vào nề nếp và chế độ thống nhất. Tài chính phải bảo đảm tốt nguồn vốn cho các cơ sở quốc doanh, cho guồng máy chuyên chính vô sản hoạt động có hiệu lực, làm tốt vai trò kiểm tra, mọi hoạt động sản xuất kinh doanh của các ngành các cấp, quản lý chặt chẽ tài sản và ngân sách, tăng thu giảm chi hợp lý, tận dụng thành quả của công tác cải tạo xã hội chủ nghĩa. Sắp tới tài chính quận có quản lý một phần ngân sách do thành phố phân công, có dự trù một phần chi phí bất thường cho Quận.

Ra sức cần kiệm xây dựng chủ nghĩa xã hội, khai thác mọi tiềm năng hiện có, sử dụng tiết kiệm sức lao động, vật tư, tiền vốn. Kiên quyết chống mọi biểu hiện tham ô lãng phí, xử lý nghiêm khắc sai phạm.

Tiến hành thâu đúng, thâu đủ các thứ thuế phân công cho địa phương, tăng cường cán bộ nhân viên phòng thuế, thống nhất lực lượng thu thuế của phòng tài chính và phòng thuế. Cần có biện pháp mạnh mẽ quản lý tiền mặt, bảo đảm vốn tín dụng cho các ngành sản xuất, lưu thông, phân phối, xây dựng phát triển theo phương hướng cải tạo và xây dựng thành phố, đẩy mạnh hơn nữa phong trào quần chúng gởi tiền tiết kiệm, thanh toán kịp thời, phát huy chức năng giám sát của ngân hàng qua công tác quản lý tiền tệ.

Cùng với toàn thành phố phấn đấu kéo giá xuống đối với các mặt hàng chủ yếu cho đời sống hàng ngày của nhân dân lao động trên cơ sở đẩy mạnh sản xuất và cải tiến lưu thông phân phối, quản lý thị trường.

d. Cải tiến công tác quản lý kinh tế và công tác khoa học kỹ thuật:

Nghiêm chỉnh thi hành việc phân công phân cấp quản lý kinh tế giữa thành phố với quận nội thành, giữa quận và phườngqua thực hiện chấn chỉnh bổ sung ngày càng có hiệu quả kinh tế cao và phát huy được sức mạnh tổng hợp.

Cải tiến và tăng cường công tác quản lý kinh tế, lấy kế hoạch hoá làm trung tâm, kế hoạch phải cách mạng và khoa học. Các đơn vị kinh tế cơ sở phải thực hiện hoạch toán kinh tế.

Áp dụng chế độ khen thưởng vật chất đối với những sáng kiến phát minh, hợp lý hoá sản xuất, cải tiến kỹ thuật, tiết kiệm nguyên vật liệu, thay thế nguyên vật liệu thiếu.

Quận, các ngành và cơ sở sản xuất kinh doanh phải nghiêm chỉnh thực hiện chế độ quản lý vật tư kỹ thuật của Nhà nước, tận dụng phế thải, khai thác các nguyên vật liệu trong nước.

Sử dụng, bồi dưỡng, giúp đỡ số cán bộ khoa học kỹ thuật mới giải phóng, đặc biệt chú ý phổ biến kiến thức khoa học kỹ thuật cho nhân dân, cán bộ đảng viên đồng thời phát động rộng rãi một phong trào quần chúng nhất là thanh niên, công nhân trí thức phát huy sáng kiến cải tiến kỹ thuật, tiến quân mạnh mẽ vào khoa học kỹ thuật.

đ. Ổn định và từng bước cải thiện đời sống nhân dân lao động:

Cùng toàn Thành phấn đấu đến đầu năm 1979 căn bản giải quyết nạn thất nghiệp, mọi người đến tuổi lao động đều có công ăn việc làm, có nguồn thu nhập vững chắc.

Đến năm 1978 đảm bảo cung cấp ổn định và đều đặn lương thực, thực phẩm cho bữa ăn hàng ngày và hàng hoá thiết yếu cho đời sống với giá ổn định.

Giải quyết một bước quan trọng các tệ nạn xã hội, , giảm rõ rệt các bệnh xã hội, đủ thuốc trị bệnh, nâng cao từng bước sức khoẻ của nhân dân, có đủ trường lớp cho học sinh, nâng cao 1 bước sinh hoạt văn hoá và tinh thần của nhân dân thành phố.

Thực hiện đúng chính sách nhà cửa của nhà nước đối với cán bộ, công nhân, viên chức. Giải quyết nhà ở cho nhân dân lao động còn ở các khu nhà ổ chuột, nhà sàn trên ven sông rạch, giải quyết nhà, xưởng, cơ sở sản xuất, kho cửa hàng, nhà trẻ, các lớp mẫu giáo, nhà ăn tập thể, câu lạc bộ…

Công tác thứ hai: BỐ TRÍ LẠI LỰC LƯỢNG LAO ĐỘNG, TIẾP TỤC GIẢI QUYẾT NẠN THẤT NGHIỆP, VẬN ĐỘNG ĐỒNG BÀO ĐI XÂY DỰNG VÙNG KINH TẾ MỚI:

a. Việc bố trí lại lực lượng lao động, giải quyết nạn thất nghiệp chủ yếu bằng khôi phục và phát triển sản xuất, tạo công ăn việc làm và vận động đồng bào đi xây dựng vùng kinh tế mới là vấn đề then chốt trong toàn bộ công tác đời sống của thành phố.

b. Vấn đề đưa dân đi xây dựng vùng kinh tế mới có ý nghĩa quyết định trong việc phân bố lại lực lượng lao động xã hội, vừa là yêu cầu bức bách của thành phố trong việc ổn định vững chắc đời sống nhân dân lao động, vừa là yêu cầu bức bách trong việc xây dựng đất nước sau chiến tranh. Công tác này phải được tiến hành bằng một cuộc vận động cách mạng sâu rộng trong mọi tầng lớp quần chúng thành phố.

Tất cả cán bộ đảng viên và nhân dân thành phố phải nhận thức sâu sắc rằng đây là một cuộc chiến đấu mới biểu thị lòng yêu nước, tinh thần tự lực tự cường của nhân dân ta góp phần xây dựng tổ quốc giàu đẹp. Đây là một chủ trương có tính chất chiến lược gắn liền với cải tạo công thương nghiệp tư bản tư doanh, cải tạo nông nghiệp, gắn liền với việc cải tạo xây dựng thành phố, xây dựng đất nước, xây dựng tương lai đời đời cho con cháu chúng ta. Đây là con đường đúng đắn nhất để giải quyết tình trạng không có công ăn việc làm, ổn định đời sống và nâng cao mức sống của mọi người.

b. Để đạt yêu cầu mục tiêu trên, từ nay đến đầu năm 1979, Quận 3 phải vận động hồi hương, giản dân, đi kinh tế mới khoảng 50.000 người gồm những người sống bấp bênh, không có công ăn việc làm, thuộc tầng lớp buôn bán phải chuyển sang sản xuất. Đồng thời các công trình thuỷ lợi, xây dựng kinh tế mới và các công trình khác, các xí nghiệp và ngành nghề tiểu thủ công nghiệp, thương nghiệp và các ngành phục vụ sẽ thu hút khoảng 15.000 lao động.

Hồi hương 15.000, giản dân 3.000, kinh tế mới 32.000 gồm Thiên chúa 19.500, người Hoa 6.000, sĩ quan 4.000, tư sản, trung thương, tiểu thương và 1 bộ phận thủ công nghiệp 9.000. Không công ăn việc làm 10.500 người.

c. Tích cực giải quyết các biện pháp cụ thể:

1. Tiến hành một cuộc vận động sâu rộng trong quần chúng, đi sâu vào từng gia đình, từng người, phát động, giáo dục ý nghĩa của việc đi xây dựng kinh tế mới, làm cho mọi người đi cũng như ở thấy rõ trách nhiệm của mình. Biện pháp giáo dục và đấu tranh trong nội bộ quần chúng là chủ yếu.

2. Hình thành công trường thủ công để xây dựng cơ bản và vở hoang trước khi đưa đồng bào đến vùng kinh tế mới. Quận xây dựng 1 công trường để xây dựng 6 xã kinh tế mới, gồm dân quân tự vệ, thanh niên xung phong, lực lượng lao động các gia đình định đi vùng kinh tế mới, quân sự hoá, tổ chức thành phân đội, liên đội, binh đoàn lao động, phân chia thành các bộ phận chuyên môn hoá có thủ công và cơ giới, chiếm khoảng 10% số dân đi đến (khoảng 3.000 người có 1 hoặc 2 cơ giới) có chế độ đài thọ. Ban chỉ huy lấy lực lượng quân sự làm nồng cốt, kết hợp cán bộ các ngành, các đoàn thể.

3. Tổ chức khung quản lý 6 xã kinh tế mới và tiếp tục củng cố bổ sung 6 xã kinh tế mới đã hình thành, mỗi xã có 25 cán bộ gồm 1 chi bộ, 1 chi đoàn, có cán bộ chính quyền, an ninh, xã hội, giáo viên, y tế, thương nghiệp, được đào tạo huấn luyện và cùng đi với khung công trường để trong quá trình hình thành khung cán bộ quản lý ấp xã kinh tế mới.

4. Tăng cường sự chỉ đạo lãnh đạo của Đảng đối với công tác vận động đồng bào đi vùng kinh tế mới, củng cố bổ sung các ban ở quận và phường, giữ điểm chỉ đạo ở khu Hoà Hưng, mở rộng từ phường 17 đến phường 21, lập thêm ban chỉ đạo ở 10 phường từ 1 đến 10 và ban chỉ đạo 7 phường còn lại ở ven sông Trương Minh Giảng. Các phường điểm 1 lập 2 khung cán bộ xã, các phường điểm 2 lập 3 khung cán bộ xã, các phường điểm 3 lập 2 khung cán bộ xã.

5. Thực hiện tốt các chính sách của Đảng và Nhà nước đối với đồng bào hồi hương, giản dân và đi xây dựng vùng kinh tế mới.

Tăng thêm chi phí xây dựng nhà ở, cung cấp lương thực nhu yếu phẩm đến khi địa phương nhận dân đảm nhận được, cho phép bán nhà thuộc quyền sở hữu hợp pháp lấy tiền đi xây dựng kinh tế mới.

Đối với tư sản, tiểu thương, tiểu chủ, cá nhân hoặc tổ hợp muốn đem vốn liếng, phương tiện kỹ thuật góp phần xây dựng vùng kinh tế mới, Nhà nước sẽ giúp đỡ đất đai để sản xuất nông nghiệp, chăn nuôi, xây dựng nhà máy chế biến, làm các ngành nghề thủ công.

Đối với đồng bào Thiên chúa, không phân biệt lương giáo, chiếu cố đặc điểm tín ngưỡng có thể ở theo họ đạo trong từng ấp hoặc liên ấp, khi ổn định có thể xây nhà thờ và rước linh mục đến làm lễ.

Đối với đồng bào người Hoa, không phân biệt dân tộc, chiếc cố đặc điểm dân tộc có thể ở chung từng chòm từng xóm trong các ấp xã kinh tế mới.

Công tác thứ ba: ĐẨY MẠNH CÔNG TÁC TƯ TƯỞNG VĂN HOÁ

a. Yêu cầu công tác tư tưởng và văn hoá trong 2 năm 1977-1978 là tiếp tục phát huy tinh thần yêu nước, đẩy mạnh giáo dục tư tưởng xã hội chủ nghĩa, tinh thần làm chủ tập thể của nhân dân lao động, làm rõ ranh giới giữa lao động và bóc lột, giữa lao động và sống bám, giữa tập thể và cá thể, làm nổi rõ tính hơn hẳn của lối làm ăn tập thể so với cá thể, làm cho tư tưởng xã hội chủ nghĩa từng bước thâm nhập trong đời sống chính trị và tinh thần của nhân dân, chống tư tưởng tư sản và tàn dư tư tưởng phong kiến, phê phán tư tưởng tiểu tư sản, từng bước quét sạch ảnh hưởng của tư tưởng và văn hoá thực dân mới.

b. Trong công tác văn hoá phải luôn luôn bảo đảm sự lãnh đạo của Đảng, phải nhằm phục vụ công nhân, nhân dân lao động, lực lượng vũ trang, đặc biệt thanh niên, thiếu nhi; phải luôn luôn đi sát thực tế và kịp thời phản ánh cuộc đấu tranh cải tạo và xây dựng của nhân dân, đưa gương người tốt việc tốt, kết hợp xây dựng với cải tạo, áp dụng phương pháp phê bình và tự phê bình.

b. Nhiệm vụ và mục tiêu chủ yếu của từng ngành cụ thể:

1. Công tác tuyên truyền:

Phổ biến sâu rộng trong nhân dân nghị quyết đại hội 4 và nghị quyết đại hội lần I của thành phố, những vấn đề cơ bản của chủ nghĩa Mác Lê nin, đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước.

Phổ biến sâu rộng báo chí cách mạng trong quần chúng, đặc biệt chú trọng trong sách báo, chiếu bóng phục vụ thiếu nhi. Truy quét về cơ bản sách báo và văn hoá phẩm cũ.

Cùng với Thành phố cải tạo và quản lý 5 hộ in tư sản, hướng dẫn 32 cơ sở in nhỏ đi vào con đường làm ăn tập thể, gia công cho quốc doanh, đặt họ vào mạng lưới in xã hội chủ nghĩa.

2. Công tác giáo dục:

Hoàn thành cải tạo nhà trường cũ đồng thời từng bước xây dựng nhà trường mới xã hội chủ nghĩa theo yêu cầu cải cách giáo dục. Đưa lao động sản xuất vào các trường cấp 3 và lớp 9 cấp 2 với nhiều mức độ khác nhau để xây dựng trường vừa học vừa lao động sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp. Phòng công nghiệp, phòng giáo dục có kế hoạch hợp đồng các trường với các cơ sở sản xuất thích hợp.

Hoàn thành xoá nạn mù chữ, chuyển trọng tâm sang bổ túc văn hoá, phát triển mạnh mẽ các trường bổ túc văn hoá.

Cải tạo hệ thống mẫu giáo cũ (cô nhi viện, ký nhi viện), phát triển mạnh mẽ mạng lưới trường lớp mẫu giáo dân lập có sự bảo trợ và quản lý của Nhà nước, nâng cao chất lượng mẫu giáo, lập thêm 230 lớp mẫu giáo mới đáp ứng yêu cầu trong quận. Hoàn thành việc công lập hoá các trường tư. Thực hiện Nhà nước quản lý toàn bộ các trường học và nền giáo dục quốc dân. Nghiêm cấm việc giảng dạy giáo lý trong nhà trường. Qua cải tạo phân công phường phụ trách mẫu giáo, bổ túc văn hoá cho nhân dân.

Tiếp tục giáo dục cải tạo số giáo viên mới giải phóng, tăng cường đào tạo bồi dưỡng đội ngũ giáo viên, cán bộ quản lý ngành giáo dục, chú ý cán bộ giảng dạy chính trị và dạy nghề.

Thực hiện qui chế bảo đảm công đoàn giáo dục, đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh và đội thiếu niên tiền phong Hồ Chí Minh tham gia có hiệu quả vào công tác quản lý trường học.

3. Công tác văn hoá văn nghệ:

Phương hướng công tác văn hoá, văn nghệ cần khẳng định, ca ngợi, biểu dương những nhân tố mới, những việc tốt, những con người mới đồng thời nghiêm khắc phê phán những hiện tượng tiêu cực trong đời sống, những di hại của văn hoá văn nghệ tư sản phong kiến, thực dân cũ và mới.

Phát triển mạnh mẽ và không ngừng nâng cao chất lượng, phong trào văn hoá, văn nghệ quần chúng, phản ánh thực tế sinh động phong trào quần chúng cải tạo và xây dựng. Đẩy mạnh sáng tác văn học nghệ thuật kịp thời phục vụ yêu cầu nhiệm vụ chính trị, phát triển toàn diện văn học nghệ thuật, chú ý phục hồi và phát huy vốn cổ dân tộc có chọn lọc.

Xây dựng nếp sống mới, văn minh, trật tự, vui tươi, lành mạnh, xây dựng công viên, câu lạc bộ, nhà văn hoá quận, phường.

Phát triển công tác bảo tồn, bảo tàng, bảo vệ di tích lịch sử, xây dựng tượng đài kỷ niệm, nhà truyền thống của địa phương, xây dựng nhà triển lãm.

4. Công tác y tế, thể dục thể thao, bảo vệ bà mẹ và trẻ em:

“Công tác y tế và thể dục thể thao phải tích cực góp phần nâng cao sức khoẻ và bồi dưỡng thể lực của nhân dân, nhanh chóng khắc phục những hậu quả của chiến tranh, những di hại của chế độ thực dân về mặt xã hội”.

Đẩy mạnh phong trào vệ sinh phòng bệnh, phòng dịch, áp dụng chặt chẽ các qui chế về vệ sinh. Củng cố, tăng cường chế độ tiêm phòng, phát hiện sớm bao vây dập tắt mọi ổ dịch, khống chế các bệnh nguy hiểm. Tập trung giải quyết các bệnh xã hỗi: Lao, cùi, hoa liễu, tâm thần.

Củng cố và hoàn chỉnh màng lưới y tế cơ sở phường, xí nghiệp, cơ quan. Bảo đảm mỗi khu vực 30.000 dân có 1 phòng khám đa khoa và 1 nhà hộ sinh, cải tạo và sử dụng tốt các nhà hộ sinh tư.

Tiến hành công tư hợp doanh 3 viện bào chế tư, đẩy mạnh màng lưới quốc doanh, trông thuê 3 dược phòng tư, sử dụng dược sĩ và nhân viên bán thuốc lành nghề. Đấu tranh chống nạn đầu cơ thuốc, trừng trị bọn làm thuốc giả. Phân phối công bằng và đủ thuốc trị bệnh thông thường cho q/c. Phát động phong trào quần chúng trồng và sử dụng rộng rãi các cây thuốc nam, khuyến khích nghiên cứu cây thuốc nam, tạo những nguồn dược liệu quý thay thế thuốc tây, chuyển 6 bệnh viện tư và 13 cơ sở y tế sang chế độ quản lý của Nhà nước. Phát triển hội chữ thập đỏ xuống cơ sở để động viên sự đóng góp của quần chúng vào sự nghiệp y tế xã hội.

Nhanh chóng phát triển màng lưới bảo vệ bà mẹ và trẻ em xuống cơ sở. Cải tạo tốt các nhà trẻ cũ, củng cố phát triển màng lưới nhà trẻ. Trong 2 năm tới, các xí nghiệp, cơ quan, bệnh viện, cửa hàng có đông lao động nữ ăn ở tập thể đều tổ chức đủ nhà trẻ hoặc nhà trẻ liên cơ quan, mỗi phường có 2 đến 3 nhà trẻ hợp qui cách. Gấp rút đào tạo 1 đội ngũ cô nuôi dạy trẻ đáp ứng kịp yêu cầu và cần được nhà nước và nhân dân đãi ngộ thỏa đáng. Đẩy mạnh cuộc vận động sinh đẻ có kế hoạch giảm tỷ lệ phát triển dân số 0,2% so năm 1976 và giữ tỷ lệ phát triển dân số 2% trong quận. Quản lý thai sản, ra sức phòng và chữa các bệnh phụ khoa và các bệnh nghề nghiệp của phụ nữ.

Xây dựng một phong trào thể dục thể thao xã hội chủ nghĩa lành mạnh, rộng rãi trong các tầng lớp quần chúng nhất là trong thanh thiếu niên ở các trường học, xí nghiệp, cơ quan, đơn vị… nhằm rèn luyện thân thể có sức khoẻ lao động và bảo vệ tổ quốc. Cải tạo nhanh và triệt để các cơ sở thể dục thể thao tư nhân, đẩy lùi và xoá bỏ các thứ tệ nạn trong thể dục thể thao cũ. Xây dựng sân vận động và cơ sở thể dục thể thao khác ở cơ sở. Đào tạo, bồi dưỡng huấn luyện viên cho cơ sở. Đào tạo và bồi dưỡng vận động viêntrẻ cho các bộ môn.

5. Công tác thương binh xã hội:

Hoàn thành việc xác nhận 128 thương binh, 570 liệt sĩ, gia đình liệt liệt sĩ (nhất là con liệt sĩ), 600 gia đình có công với cách mạng thi hành đúng chính sách của Nhà nước đối với các đối tượng này. Phát động phong trào quần chúng rộng rãi chăm sóc giúp đỡ thương binh, gia đình liệt sĩ, gia đình có công với cách mạng, những gia đình nghèo, trẻ mồ côi, người già neo đơn, người tàn tật, những nạn nhân của chế độ cũ. Thực hiện tốt chính sách đối với 330 cán bộ, công nhân viên chức về hưu, quân nhân phục viên chuyển ngành, nhất là đối vứi cán bộ đã đóng góp nhiều cho cách mạng.

Cùng với y tế, công an và các đoàn thể quần chúng tập trung chữa trị giáo dục cải tạo ngăn ngừa các tệ nạn xã hội: ăn xin, trẻ bụi đời, nghiện xì ke, gái điếm. Số đối tượng chuyên nghiệp cần tập trung cải tạo, số đối tượng phụ không nguy hiểm sẽ do các đoàn thể đóng vai trò  nồng cốt tiến hành giáo dục cải tạo tại chỗ.

Công tác thứ tư: CỦNG CỐ CHÍNH QUYỀN CÁC CẤP, ĐẢM BẢO PHÁT HUY QUYỀN LÀM CHỦ TẬP THỂ CỦA NHÂN DÂN LAO ĐỘNG

Để thực hiện quyền làm chủ tập thể của nhân dân laođ ộng, phải ra sức củng cố hệ thống chuyên chính vô sản, trước hết là bộ máy hcính quyền các cấp đủ sức làm nhiệm vụ cải tạo và xây dựng, quản lý kinh tế, văn hoá, xã hội và giữ gìn an ninh trật tự và an toàn xã hội trong thành phố.

a. Củng cố và tăng cường bộ máy chính quyền quận phường thực sự là của dân, do dân, vì dân:

Đảng ta là Đảng cầm quyền, thông qua bộ máy Nhà nước cho nên cán bộ được tuyển chọn làm công tác chính quyền phải là những người có ý thức phục vụ nhân dân không điều kiện, phải lắng nghe sự góp ý phê bình của quần chúng.

Phải dựa vào quần chúng tích cực thường xuyên kiểm tra ngăn ngừa và sa thải những phần tử xấu trà trộn vào chính quyền hoặc những cán bộ mất phẩm chất. Phải tôn trọng sử dụng đầy đủ chức năng nhiệm vụ quyền hạn của các cơ quan dân cử, đảm bảo có điều kiện hoạt động thiết thực, thảo luận và biểu quyết các chủ trương, các vấn đề quan trọng của cấp mình, kịp thời phản ánh đúng đắn ý kiến của quần chúng, hướng dẫn động viên q/c hưởng ứng thực hiệc quyền giám sát của dân đối với cơ quan chính quyền các cấp ở thành phố.

Trong quá trình cải tạo xã hội chủ nghĩa, mạnh dạn chọn lọc, bồi dưỡng, giáo trách nhiệm cho cán bộ xuất thân từ phong trào cách mạng, gắn bó với quần chúng tại chỗ. Củng cố các tổ dân phố, các tổ sản xuất, các HTX tiêu thụ, các đơn vị kinh tế xã hội chủ nghĩa và nửa xã hội chủ nghĩa ở cơ sở.

Mỗi cơ quan Nhà nước, mỗi ngành cần có nội qui, nhiệm vụ chức trách rõ ràng, có chế độ tiếp xúc dân. Mỗi cán bộ, nhân viên cũng phải qui định nhiệm vụ, chức trách rõ ràng để trên cơ sở đó mà kiểm điểm. Nghiên cứu bãi bỏ số thủ tục giấy tờ quan liêu phiền hà, lãng phí thì giờ, tiền bạc của nhân dân.

Tiếp tục phát huy phong trào nhân dân góp ý kiến xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền tự phê bình trước quần chúng. với nội dung được chuẩn bị kỹ, có tác dụng tốt trong nhân dân. Đồng thời phải hướng dẫn nhân dân tự phê bình, góp ý lẫn nhau để giải quyết những vấn đề xảy ra trong nội bộ nhân dân, xây dựng thái độ đúng đắn làm tròn nghĩa vụ người dân đối với chính quyền cách mạng.

Có kỷ luật nghiêm minh với những cán bộ xấu, móc ngoặc, ăn hối lộ, trộm cắp của công, đi ngược lại bản chất chính quyền cách mạng. Khen thưởng, bồi dưỡng, đề bạt kịp thời những cán bộ, nhân viên tốt, tận tuỵ hết lòng hết sức phục vụ nhân dân.

Tích cực thực hiện tốt nghị quyết 228 của Bộ chính trị và vấn đề “Bảo vệ tài sản xã hội chủ nghĩa và thông tư số 159 của Thủ tướng chính phủ nói về vấn đề chống bệnh quan liêu, giấy tờ, cửa quyền, giảm bớt phiền hà cho nhân dân trong công tác quản lý và phục vụ của các cơ quan Nhà nước”.

b. Củng cố và tăng cường lực lượng quân sự, công an, các cơ quan kiểm sát, toà án, thanh tra, pháp chế ngày càng vững mạnh, đủ sức bảo vệ thành phố, giữ gìn an ninh chính trị trật tự và an toàn xã hội.

Không ngừng nâng cao cảnh giác cách mạng, giữ vững ý chí tiến công, củng cố quốc phòng toàn dân, ra sức bảo vệ an ninh chính trị, trật tự và an toàn xã hội, kiên quyết đập tan mọi âm mưu hoạt động của bọn gián điệp, bọn phản động ngóc đầu dậy, sự phản kháng của giai cấp bóc lột, ra sức ngăn chặn các tội phạm khác làm cho tình hình an ninh chính trị và trật tự xã hội được ổn định vững chắc hơn.

1. Quân sự:

Nhiệm vụ quân đội trong tình hình mới là vừa bảo vệ tổ quốc vừa tham gia xây dựng kinh tế.

Chăm lo xây dựng lực lượng quân sự vềmọi mặt, tiến nhanh lên chính qui hiện đại; không ngừng rèn luyện cán bộ chiến sĩ tư tưởng tiến công, cách mạng không ngừng, tuyệt đối trung thành với Đảng; giáo dục chính trị, nâng cao trình độ kỹ chiến thuật, rèn luyện quân phong quân kỷ, nâng cao trình độ khoa học kỹ thuật, xây dựng mạnh lực lượng 3 thứ quân, chú trọng thích đáng lực lượng tư vệ phường, tự vệ cơ quan, xí nghiệp, bệnh viện, trường học, công trường… luôn luôn sẳn sàng chiến đấu, bảo vệ thành phố và tham gia sản xuất, tháo gỡ bom mìn, tộ túc một phần lương thực, giúp đồng bào đi xây dựng kinh tế mới, góp phần phục vụ thiết thực công cuộc cải tạo xã hội chủ nghĩa và xây dựng chủ nghĩa xã hội.

Phấn đấu quận xây dựng 1 C địa phương quân đủ, mỗi phường 1 B tự vệ đủ, khu vực tổ đảng 1 B tự vệ rộng rãi, các cơ sở khác có chi bộ xây dựng 1 A tự vệ. Đào tạo đủ cán bộ phường đội, trung đội, tiểu đội tự vệ.

Thực hiện tốt nghĩa vụ quân sự, công tác hậu cần và các mặt công tác phục viên, chuyển ngành, thay quân, quản lý tốt lực lượng dự bị; thi hành các chính sách thương binh, tử sĩ.

2. Công an:

Lực lượng công an vừa là công cụ bạo lực nhưng đồng thời cũng là lực lượng chính trị sắc bén. Cần chống những quan điểm sai lệch về mặt nghiệp vụ kỹ thuật chuyên môn mà thoát ly tình hình chính trị cụ thể, năng ngành dọc mà xem nhẹ sự lãnh đạo của cấp uỷ địa phương. Các cấp uỷ có trách nhiệm lãnh đạo, xây dựng rèn luyện, chăm lo đời sống cán bộ chiến sĩ, trực tiếp lãnh đạo và chỉ đạo chặt chẽ lực lượng công an không ngừng rèn luyện củng cố lực lượng công an về mọi mặt.

Phấn đấu xây dựng lực lượng công an nhân dân trở thành một lực lượng võ trang sắc bén tuyệt đối trung thành với Đảng, với nhân dân, với Tổ quốc xã hội chủ nghĩa, bảo vệ những thành quả cách mạng, phải vững về chính trị, giỏi về nghiệp vụ, có trình độ khoa học kỹ thuật, có cơ sở quần chúng rộng khắp. Đồng thời phải giáo dục lực lượng công an hết sức tôn trọng sinh mạng, tài sản và quyền làm chủ tập thể của nhân dân lao động.

Trong 2 năm 1977-1978 phải loại trừ mọi vụ bạo loạn võ trang về biến động chính trị phản cách mạng; đẩy lùi một bước quan trọng và hạn chế đến mức thấp nhất các tệ nạn xã hội khác và các vụ tệ nạn hình sự, đặc biệt là các vụ trọng án. Đảm bảo an toàn xã hội nhất là an toàn lao động, an toàn giao thông và bảo vệ môi trường. Đến năm 1980 sẽ giải quyết một bước cơ bản các tệ nạn xã hội và tội phạm hình sự (giảm được từ 70 đến 80%).

Phấn đấu năm 1977 trên diện một phong trào rộng rãi có từ 40 đến 50% đơn vị phường, tổ dân phố có phong trào bảo vệ an ninh và an toàn xã hội của nhân dân khá, đến năm 1978 tiến lên đạt 70%, đặc biệt phải có phong trào khá trên các địa bàn trọng điểm trong năm 1977.

Để đạt các yêu cầu trên, để có một phong trào quần chúng rộng mạnh, tạo được 1 thế áp đảo đối với các loại đối tượng, nhất là ở cơ sở và các địa bàn trọng điểm phải phát huy cho được sức mạnh tổng hợp của các cơ quan có trách nhiệm và các đoàn thể, hình thành khối nội chính, phân cưng đồng chí Thường vụ cấp uỷ phụ trách khối này, nâng cao hơn nữa trách nhiệm lãnh đạo của cấp uỷ.

3. Các ngành kiểm sát, toà án, thanh tra, pháp chế:

Củng cố và tăng cường các cơ quan trên để nhanh chóng phát huy sức mạnh và hiệu lực pháp chế xã hội chủ nghĩa, để có đủ khả năng giám sát việc thi hành pháp luật, giải quyết xét xử kịp thời những vụ vi phạm pháp luật, các quyền tự do dân chủ và quyền lợi của xã hội, của nhân dân; hết sức coi trọng tổ chức và công tác thanh tra nhân dân, tư pháp nhân dân.

Đưa mọi hoạt động của nhà nước, của xã hội, mọi hoạt động kinh tế, văn hoá vào nề nếp, khuôn khổ, pháp luật.

Mọi công dân kể cả cán bộ, nhân viên phải tự giác thi hành nghiêm chỉnh pháp luật Nhà nước, cán bộ đảng viên phải gương mẫu, coi đó là kỷ luật của Đảng.

Nghiêm cấm mọi hành vi xâm phạm đến những quyền lợi chính đáng của nhân dân nhất là quyền ứng cử, bầu cử, quyền lao động, học hành, đi lại, tín ngưỡng… mà hiến pháp đã qui định.

Mọi người trong thành phố có quyền công dân đều có quyền kháng nghị, tố giác khiếu nại hoặc thông qua các cơ quan dân cử, các đoàn thể cách mạng phản ánh nguyện vọng chính đáng và thực hiện trách nhiệm kiểm tra, giám sát của mình đối với chính quyền. Các cơ quan Nhà nước phải bảo đảm quyền lợi đó cho mọi công dân trong thành phố.

c. Phát huy vai trò, chức năng, nhiệm vụ của đoàn thể quần chúng trong việc thực hiện quyền làm chủ tập thể của nhân dân lao động:

Quyền làm chủ tập thể của nhân dân lao động chẳng những thực hiện chủ yếu bằng nhà nước mà còn thực hiện bằng đoàn thể quần chúng là người thay mặt cho nhân dân tham gia quản lý kinh tế, đời sống, xã hội.

Cùng với việc củng cố chính quyền phải chú trọng phát triển lực lượng, củng cố tổ chức, phát huy tác dụng của các đoàn thể, vai trò của mặt trận, tạo điều kiện cho cán bộ mặt trận và đoàn thể vừa tham gia thiết thực vào công tác chính quyền vừa đảm bảo công tác dân vận.

Công tác thứ năm: PHÁT HUY VAI TRÒ NÒNG CỐT CỦA CÁC ĐOÀN THỂ, ĐẨY MẠNH PHONG TRÀO HÀNH ĐỘNG CÁCH MẠNG SÔI NỔI, SÂU RỘNG VÀ LIÊN TỤC CỦA CÁC TẦNG LỚP NHÂN DÂN

Trong giai đoạn cách mạng mới, công tác dân vận mặt trận phải nhằm mục tiêu vận động quần chúng các giới thực hiện nhiệm vụ chính trị của Đảng; đẩy mạnh cải tạo xã hội chủ nghĩa và xây dựng chủ nghĩa xã hội. Yêu cầu là phải duy trì , bồi dưỡng, phát huy phong trào quần chúng hiện nay, từng bước đưa lên thành cao trào, trung tâm là phong trào lao động sản xuất, cần kiệm xây dựng chủ nghĩa xã hội. Đây là một trong những nhân tố quyết định thắng lợi việc thực hiện nghị quyết đại hội 4, nghị quyềt đại hội lần I của Đảng bộ thành phố.

Muốn tạo được một phong trào cách mạng và liên tục không có con đường nào khác là phát động quần chúng mà nội dung phát động chủ yếu là phát huy cao độ quyền làm chủ tập thể của quần chúng, trước hết là nhân dân lao động.

a. Công nhân:

Ra sức xây dựng giai cấp công nhân thành phố không ngừng lớn mạnh về số lượng và chất lượng, xứng đáng với vai trò  giai cấp tiên phong lãnh đạo cách mạng. Tạo điều kiện cho giai cấp công nhân thực sự làm chủ tập thể nhà máy, tham gia tích cực và có hiệu quả vào việc quản lý xí nghiệp, quản lý kinh tế, quản lý xã hội. Công đoàn có nhiệm vụ  giáo dục tư tưởng xã hội chủ nghĩa, ý thức làm chủ tập thể, tinh thần tự lực tự cường, ra sức khắc phục khó khăn, cần kiệm xây dựng đất nước, xây dựng thái độ lao động mới, tác phong đại công nghiệp, nâng cao trình độ chính trị, văn hoá, kỹ thuật, nghiệp vụ, giáo dục những công nhân mới giải phóng thành công nhân xã hội chủ nghĩa. Có kế hoạch đào tạo từ trong công nhân  những cán bộ kỹ thuật, quản lý giỏi và các loại cán bộ khác. Tổ chức phong trào thi đua lao động sản xuất, tiết kiệm, phát huy sáng kiến, cải tiến kỹ thuật, tăng năng suất, hoàn thành vượt mức kế hoạch Nhà nước. Phát động công nhân tham gia cải tạo xã hội chủ nghĩa đối với công thương nghiệp tư bản tư doanh, tiểu thủ công nghiệp. Tham gia quản lý xí nghiệp, kiểm tra qúa trình sản xuất, sử dụng nguyên vật liệu, phân phối thành phẩm đúng chính sách, chế độ của Nhà nước. Công đoàn cùng Nhà nước chăm lo đời sống của công nhân, viên chức, bảo đảm các quyền lợi chính đáng về lao động, học tập, điều kiện ăn ở, nghỉ ngơi, phúc lợi tập thể.. kể cả công nhân xí nghiệp quốc doanh, công tư hợp doanh và tư doanh.

Tổ chức công đoàn cần được nhanh chóng mở rộng để thu hút đông đảo công nhân tham gia, nhất là công nhân công nghiệp. Các tổ chức công đoàn cơ sở phải được củng cố để đủ sức tự động công tác. Phấn đấu phát triển hầu hết công nhân các xí nghiệp quốc doanh, cán bộ, nhân viên nhà nước vào công đoàn 2/3 công nhân trong các xí nghiệp công tư hợp doanh, ½ công nhân trong các xí nghiệp tư bản tư doanh, xây dựng công đoàn cơ sở ở các tổ chức cơ sở công nhân. Trao đổi với công đoàn Thành phố phân công phụ trách các xí nghiệp và cơ quan đóng trong quận.

Cần tổ chức công đoàn cấp phường để thu hút các thành phần công nhân, lao động, klhông thuộc diện xí nghiệp, cơ quan, bệnh viện, trường học, cửa hàng.

Gấp rút đào tạo cán bộ công đoàn về mọi mặt, cả cán bộ cấp quận và cơ sở, tăng cường ban chấp hành liên hiệp công đoàn quận làm được nhiệm vụ.

b. Đoàn thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh và đội thiếu niên tiền phong Hồ Chí Minh:

Đoàn thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh phải được xây dựng và củng cố vững mạnh về chính trị, tư tưởng và tổ chức, xứng đáng là trường học Cộng sản chủ nghĩa của tuổi trẻ, cánh tay đắc lực và đội hậu bị tin cậy của Đảng trong cách mạng xã hội chủ nghĩa.

Đoàn phải giáo dục rèn luyện thanh niên một cách toàn diện, trong thực tế đấu tranh cách mạng, phát huy những truyền thống tốt đẹp của thanh niên, tăng cường giáo dục thanh niên về nhân sinh cách mạng, về lý tưởng cao đẹp, về chủ nghĩa anh hìng cách mạng “Sống, chiến đấu, lao động, học tập theo gương Bác Hồ vĩ đại”, về những quan điểm cơ bản như lao động, phục vụ nhân công, làm chủ tập thể, xây dựng và bảo vệ tổ quốc xã hội chủ nghĩa, về nếp sống văn minh, lành mạnh, có tổ chức, có kỷ luật. Trên cơ sở đó đẩy mạnh phong trào thanh niên tiến quân vào lao động sản xuất, vào khoa học kỹ thuật, vào việc cải tạo và xây dựng một cuộc sống mới văn minh, lành mạnh, vui tươi, tiến lên thành một cao trào thanh niên xây dựng xã hội chủ nghĩa với qui mô ngày càng lớn, tổ chức chặt chẽ khoa học, thu hút đại bộ phận thanh niên, cả bộ phận thanh niên chậm tiến. Xây dựng chủ nghĩa xã hội thanh niên còn có nhiệm vụ to lớn bảo vệ tổ quốc xã hội chủ nghĩa, làm nghĩa vụ quân sự, làm tự vệ xí nghiệp, cơ quan, trường học, phường. Quan tâm đến quyền lợi tuổi trẻ, điều kiện lao động, học tập, hoạt động văn hoá, thể dục thể thao…

Cần củng cố, phát triển Đoàn cả về số lượng và chất lượng. Trong 2 năm tới, cố gắng tập hợp khoảng 80% quần chúng thanh niên vào tổ chức, phát triển đoàn gấp 4 lần, năm 1977 phát triển gấp đôi số hiện có, năm 1978 gấp đôi năm 1977, nhanh chóng xây dựng chi đoàn tự động công tác ở cơ sở. Mạnh dạn đề bạt và đào tạo hàng loạt cán bộ nảy nở từ phong trào hành động cách mạng của thanh niên nhất là thanh niên công nhân trong phong trào sản xuất, cải tiến kỹ thuật, tăng năng suất.

Đoàn thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh có trách nhiệm phụ trách đội thiếu niên tiền phong Hồ Chí Minh và đội nhi đồng Hồ Chí Minh. Cần giáo dục tốt thiếu nhi làm theo 5 điều Bác Hồ dạy; hướng dẫn tốt việc học tập trong trường và sinh hoạt ngoài trường của các em, nhất là sinh hoạt đội và sinh hoạt câu lạc bộ.

c. Hội liên hiệp phụ nữ:

Hội Liên hiệp Phụ nữ giáo dục các tầng lớp phụ nữ về vai trò và trách nhiệm của người phụ nữ đối với tổ quốc, xã hội và gia đình, vai trò và trách nhiệm của phụ nữ  trong đấu tranh cải tạo xã hội chủ nghĩa và xây dựng chủ nghĩa xã hội, trong xây dựng gia đình văn hoá mới, nâng cao ý thức làm chủ tập thể, thực hiện nam nữ bình đẳng.

Công tác của Hội trong 2 năm tới nhằm thực hiện tốt nghị quyết đại hội 4, phát động mạnh mẽ phong trào phụ nữ, thực hiện khẩu hiệu “Giỏi việc nước đảm việc nhà” phát huy lực lượng và khả năng của phụ nữ trong mọi hoạt động xã hội, trong quản lý kinh tế, văn hóa, quản lý Nhà nước, cụ thể là đẩy mạnh phong trào thi đua lao động sản xuất, cần kiệm xây dựng chủ nghĩa xã hội, vận động một bộ phận tiểu thương chuyển sang sản xuất, phát huy vai trò của phụ nữ trong các tổ chức phân phối lương thực, thực phẩm, góp phần chăm sóc và cải thiện bữa ăn hàng ngày của nhân dân lao động. Mặt khác tích cực vận động phong trào sinh đẻ có kế hoạch, đẩy mạnh phong trào nuôi con khoẻ dạy con ngoan, xây dựng gia đình văn hoá mới.

Đảng và chính quyền các cấp cần thực hiện đúng chính sách quan tâm giai quyết tốt các quyền lợi thiết thực của phụ nữ nhằm tạo điều kiện để chị em làm tròn trách nhiệm người công dân và chức trách cao quí của người mẹ.

Kiện toàn tổ chức Hội các cấp, nâng cao chất lượng cán bộ và hội viên, đi đôi với phát triển Hội, tập hợp khoảng 85% phụ nữ vào các tổ chức do Hội làm nồng cốt, nhanh chóng đào tạo cán bộ trẻ xuất thân từ phong trào để bổ sung ban chấp hành các cấp và tham gia hoạt động của các ngành.

d. Trí thức:

Quan tâm bồi dưỡng giáo dục cán bộ khoa học kỹ thuật làm việc dưới chế độ cũ mau chóng trở thành trí thức xã hội chủ nghĩa, tuyệt đối trung thành với tổ quốc xã hội chủ nghĩa. Tích cực sử dụng, phát huy khả năng của trí thức trong mọi hoạt động kinh tế, văn hoá, khoa học kỹ thuật, tạo mọi điều kiện thuận lợi về vật chất và tinh thần để anh chị em tập trung nghiên cứu giải quyết những khó khăn trước mắt (nguyên liệu, thiết bị phụ tùng thay thế trong công nghiệp, phân bón, giống mới trong nông nghiệp và yêu cầu lâu dài của thành phố).

đ. Tôn giáo:

Làm cho đồng bào các tôn giáo hiểu rõ chính sách đại đoàn kết, chính sách tôn trọng tự do tín ngưỡng trước sau như một của Đảng và Mặt trận là:

“Đoàn kết tất cả những người yêu nước và tiến bộ trong các tôn giáo, đoàn kết đồng bào có đạo và không có đạo để cùng nhau xây dựng và bảo vệ đất nước, xây dựng cuộc sống ấm no hạnh phúc”. Nhưng đồng thời chính quyền cách mạng kiên quyết chống những hoạt động lợi dụng tôn giáo làm hại đến lợi ích của tổ quốc, của nhân dân, của sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội. Kiên trì đi sâu gỡ những mặc cảm, tị hiềm nhất là trong đồng bào Thiên chùa giáo di cư, bằng những công tác thiết thực, chăm lo đời sống và lợi ích của đồng bào. Đưa tín đồ các tôn giáo vào các tổ chức giái cấp và giới, qua đó làm sáng tỏ các chủ trương, chính sách của chính quyền cách mạng đối với đồng bào, đồng thời tạo điều kiện cho đồng bào đóng góp vào công việc chung.

e. Các dân tộc nhất là đối với người Hoa:

Đảng ta coi quyền lợi và nghĩa vụ của người Hoa như quyền lợi và nghĩa vụ của người Việt. Đồng thời có chiếu cố đặc điểm dân tộc của người Hoa nhằm động viên mọi yếu tố tích cực trong người Hoa hăng hái tham gia vào công cuộc cải tạo và xây dựng. Giáo dục công nhân lao động người Hoa ý thức giai cấp để anh chị em mạnh dạn đấu tranh chống mặt xấu, tiêu cực của giai cấp tư sản.

f. Công tác mặt trận:

Trên nền tảng khối liên minh công nông, mặt trận dân tộc thống nhất của thành phố trong giai đoạn mới có nhiệm vụ đoàn kết các tầng lớp, tôn giáo, dân tộc, làm thành 1 khối thống nhất ý chí và hành động, phát huy nhiệt tình cách mạng và tinh thần làm chủ tập thể của nhân dân, động viên mọi tầng lớp nhân dân thi đua thực hiện phương hướng nhiệm vụ 5 năm 1976-1980 và nhiệm vụ mục tiêu 2 năm 1977-1978 của thành phố.

Mở đại hội mặt trận quận, phường để thành lập uỷ ban mặt trận chính thức.

g. Đảng lãnh đạo dân vận mặt trận:

Để tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác dân vận mặt trận, ở quận phân công một uỷ viên thường vụ Quận uỷ phụ trách, có một số cán bộ giúp việc. Ở phường phân công một uỷ viên Thường trực hoặc cấp uỷ viên phụ trách. Các đồng chí cấp uỷ viên được phân công phụ trách công tác dân vận mặt trận phải chuyển trách nhiệm hoặc dành phần lớn thì giờ để làm công tác dân vận mặt trận.

Các cấp uỷ Đảng và chính quyền cần khắc phục tình trạng coi nhẹ công tác dân vận mặt trận, sử dụng các đoàn thể quần chúng như nhỗng công cụ của chính quyền, đồng thời cũng khắc phục khuynh hướng đối lập với chính quyền. Cần nhận mối quan hệ giữa Đảng lãnh đạo, chính quyền quản lý và nhân dân làm chủ. Đoàn thể là một tổ chức rộntg rãi của quần chúng, tập hợp quần chúng tiến bộ, phải có vị trí xứng đáng trong hệ thống chuyên chính vô sản, tham gia mọi mặt quản lý xã hội. Do đó cần có những qui chế cụ thể về quyền làm chủ của nhân dân trong từng lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội, cả trong sản xuất và lưu thông phân phối.

Công tác thứ sáu: TĂNG CƯỜNG CÔNG TÁC XÂY DỰNG ĐẢNG, NÂNG CAO NĂNG LỰC TỔ CHỨC THỰC HIỆN VÀ CẢI TIẾN LỀ LỐI LÀM VIỆC.

Sau 2 năm hoà bình xây dựng, đảng bộ thành phố đã trưởng thành về cả số lượng lẫn chất lượng, có những ưu điểm lớn rất cơ bản nhưng cũng còn nhiều khuyết nhược điểm. Đáng chú ý nhất là công tác tư tưởng, tổ chức và đào tạo bồi dưỡng cán bộ, trong công tác tổ chức 3 khâu lần lượt quan tâm trước hết là vấn đề chi bộ, vấn đề cán bộ và vấn đề tổ chức thực hiện:

a. Công tác tư tưởng:

1. Trong 2 năm tới, phải tạo được sự chuyển biến sâu sắc trong nhận thức tư tưởng của cán bộ, đảng viên về tình hình và nhiệm vụ mới được vạch ra trong nghị quyết đại hội 4 và nghị quyết đại hội lần thứ I của đảng bộ thành phố:

Việc phổ biến nghị quyết của đại hội phải được tiến hành bằng một đợt sinh hoạt chính trị đặc biệt có tính chất chỉnh huấn trong nội bộ Đảng, giải quyết thật sâu sắc những vấn đề về quan điểm, lập trường trong việc đánh giá tình hình đã qua và nhận thức những nhiệm vụ mục tiêu sắp tới của Đảng bộ. Kiểm điểm phê phán mọi tư tưởng và hành động làm trở ngại bước tiến lên của cuộc cải tạo và xây dựng đồng thời xây dựng những quan điểm tư tưởng đúng đắn, tăng cường sự đoàn kết nhất trí trong Đảng.

2. Thường xuyên giáo dục cán bộ, đảng viên thấm nhuần phương hướng tư tưởng đã được đại hội 4 của Đảng vạch ra:

“Phải kiên quyết khắc phục tư tưởng tiểu tư sản mà biểu hiện phổ biến về mặt chính trị là sự dao động hữu khuynh và “tả” khuynh mà hữu khuynh là chủ yếu; về mặt ý thức là chủ nghĩa cá nhân dưới nhiều màu sắc; về mặt phương pháp là chủ nghĩa chủ quan, một chiều. Phải kiên quyết đấu tranh chống mọi ảnh hưởng của tư tưởng tư sản và những tàn dư tư tưởng phong kiến trong cán bộ, đảng viên”.

Nâng cao phẩm chất, đạo đức cách mạng của cán bộ đảng viên, lấy gương cần kiệm liêm chính, chí công vô tư của Hồ Chủ tịch để giáo dục rèn luyện, làm cho mỗi đảng viên thực sự tiêu biểu là con người mới xã hội chủ nghĩa. Ngăn chặn hạn chế về phẩm chất đạo đức. Chống mọi biểu hiện của chủ nghĩa ca 1nhân: tham ô, móc ngoặc, công thần địa vị, tư tư tự lợi, hưởng lợi, thiếu gương mẫu trong công tác và cuộc sống. Chống tư tưởng và tác phong quan liêu, mạng lệnh, hách dịch, cửa quyền, tự do tuỳ tiện, bản vị cục bộ, thiếu tinh thần hợp tác xã hội chủ nghĩa đã gây nhiều trở ngại cho việc thực hiện chỉ thị, nghị quyết của Đảng và kế hoạch của Nhà nước.

Các nội dung trên đây cần phải được đưa ra kiểm điểm trong các cấp uỷ, trong chi bộ. Sinh hoạt chi bộ hàng tháng, 3 tháng ngoài kiểm điểm công tác lãnh đạo, có phần tự phê bình và phê bình của đảng viên, cấp uỷ viên, xây dựng thành nề nếp thường xuyên. Quận uỷ 6 tháng kiểm điểm công tác lãnh đạo 1 lần. Mỗi năm có 1 đợt kiểm điểm tự phê bình của cấp uỷ viên, cán bộ, đảng viên trong Đảng bộ. Song song với sinh hoạt trên, phát động phong trào quần chúng giám sát, kiểm tra tư cách cán bộ đảng viên, kiểm tra các hoạt động của Nhà nước.

Chấn chỉnh củng cố chi bộ cơ quan, sinh hoạt có nề nếp và thực hiện đúng vai trò chức năng nhiệm vụ của chi bộ, tổ đảng và từng đảng viên. Bất cứ cán bộ cấp nào cũng phải sinh hoạt chi bộ và đóng đảng phí theo điều lệ Đảng đã qui định.

b. Công tác tổ chức:

Ra sức củng cố và kiện toàn hệ thống chuyên chính vô sản ở quận và phường.

1. Ở cơ sở:

Xây dựng củng cố chi bộ là nhiệm vụ hàng đầu trong công tác củng cố xây dựng Đảng, là nhiệm vụ hàng đầu của Quận uỷ.

Củng cố chi bộ phải gắn liền việc củng cố chính quyền và các đoàn thể quần chúng, bảo đảm xây dựng ở cơ sở một cơ cấu tổ chức vững mạnh phù hợp với tình hình cụ thể của địa phương. Ngoài việc quan tâm chi bộ phường cần chú ý củng cố các loại chi bộ xí nghiệp, trường học, bệnh viện, cửa hàng, cơ quan, đơn vị. Cần xác định rõ nhiệm vụ chính trị từng loại chi bộ trong giai mới. Chi bộ, đảng uỷ cơ sở phải có khả năng lãnh đạo toàn diện: lãnh đạo chính quyền, quản lý kinh tế, quản lý xã hội, vận động quần chúng phát huy quyền, quản lý kinh tế, quản lý xã hội, vận động quần chúng phát huy quyền làm chủ tập, chấp hành tốt các chủ trương chính sách của Đảng, kế hoạch và luật pháp Nhà nước.

Tăng cường sự chỉ đạo của Quận uỷ đối với cơ sở, trong 2 năm 1977-1978 phấn đấu nâng 2/3 chi bộ khá, 1/3 chi bộ trung bình, không có chi bộ kém. Phân công từng Quận uỷ viên chịu trách nhiệm giúp cho từng phường và một số cơ sở tổ chức quan trọng khác điều chỉnh cán bộ lãnh đạo đảng viên cho những cơ sở trọng yếu và phức tạp. Nhanh chóng hình thành hạt nhân lãnh đạo ở các nơi chưa có cơ sở Đảng. Mở ngay các lớp huấn luyện, tập huấn ngắn ngày để bồi dưỡng năng lực lãnh đạo các đảng uỷ, chi uỷ, đặc biệt là bí thư chi bộ. Quan tâm hơn nữa đời sống, chế độ lương bổng và phụ cấp đối với cán bộ cơ sở, giúp cho cán bộ cơ sở có điều kiện phát huy tinh thần và khả năng công tác.

Thông qua các phong trào cách mạng của quần chúng xây dựng tổ chức đảng, tổ chức chính quyền và các đoàn thể quần chúng ngày càng vững mạnh. Không thể thừa nhận 1 chi bộ tốt mà ở đấy sản xuất không lên, năng suất lao động không tăng, nghĩa vụ đối với Nhà nước không hoàn thành, quyền làm chủ tập thể của nhân dân lao động bị xâm phạm, đời sống quần chcúng về mọi mặt không được cải thiện, những nguyên tắc tổ chức và sinh hoạt nội bộ thực hiện không tốt.

2. Cấp quận:

Kiện toàn cấp quận đủ sức lãnh đạo toàn diện nhất là khâu lãnh đạo quản lý kinh tế, đưa phong trào cách mạng của quần chúng ở địa phương tiến lên liên tục. Tranh thủ các ban ngành thành phố củng cố phát triển các ngành chuyên môn quận, xây dựng củng cố hệ thống ngành ở cơ sở để hình thành đồng bộ bộ máy ở quận và hệ thống chân rết ở cơ sở nhất là bộ máy quản lý kinh tế.

Mạnh dạn đề bạt cán bộ tại chỗ, có triển vọng ở cơ sở vào cơ quan lãnh đạo Đảng, chính quyền, đoàn thể cấp quận.

c. Công tác quản lý, đào tạo, bồi dưỡng cán bộ:

1. Trên cơ sở đội ngũ cán bộ hiện có, bố trí lại những trường hợp chưa hợp lý, phát huy tốt khả năng của các loại cán bộ. Cán bộ trưởng thành từ phong trào, cán bộ chi viện, cán bộ cũ và mới kể cả cán bộ mới giải phóng, cán bộ già và trẻ, đồng thời có qui hoạch, kế hoạch đào tạo cán bộ kịp thời đáp ứng yêu cầu trước mắt và sau này. Nhanh chóng đào tạo gần 500 đảng viên phần lớn lên cán bộ cơ sở Đảng, tuyển chọn một số cán bộ cơ sở, sơ cấp còn trẻ đưa đi đào tạo dài hạn theo kế hoạch của Thành. Phân loại cán bộ đảng viên để có kế hoạch đào tạo bồi dưỡng sát từng loại.

2. Lựa chọn những phần tử ưu tú xuất thân thành phần cơ bản, trưởng thành qua các phong trào quần chúng để đào tạo hàng loạt cán bộ mới, trẻ, nữ bổ sung và đội ngũ cán bộ lãnh đạo và quản lý của Đảng, chính quyền và đoàn thể bảo đảm cho quận, cơ sở và cung cấp cho trên nhằm đảm bảo tính kế thừa và liên tục trong đội ngũ cán bộ. Năm 1977 đào tạo 2.000 cán bộ quần chúng, có 1.400 đoàn viên, 500 đối tượng phát triển đảng viên. Năm 1978 đào tạo 4.000 cán bộ quần chúng, có 2.800 đoàn viên, đào tạo 1.000 đối tượng phát triển đảng viên.

Bồi dưỡng đào tạo bằng phương pháp tập huấn kềm cặp, giao công kiểm việc nhất là thực hiện chế độ tư phê bình và phê bình trong Đảng để đào tạo, bồi dưỡng số cán bộ đảng viên tại chức. Phát động 1 phong trào tự học, học tập tại chức, bắt buộc cán bộ đảng viên phải học hết cấp 2, phấn đấu mỗi năm lên 1 lớp.

3. Thẩm tra số đảng viên kết nạp từ năm 1974 đến nay theo chỉ thị 235 của Ban bí thư TW Đảng. Thực hiện nghiêm chỉnh nghị quyết 235 của Bộ Chính trị về việc chống tệ nạn tham ô, móc ngoặc, bảo vệ tài sản xã hội chủ nghĩa, kiên quyết thanh trừ, đưa ra khỏi Đảng những phần tử xấu, cơ hội, thoái hoá, biến chất.Nhữg trườg hợp sai phạm đã được phát hiện phải tiến hành thẩm tra xác minh kiểm điểm kết luận và xử lý không để dây dưa kéo dài. Những nơi mất đoàn kết nội bộ cần phải có kết luận xử lý thích đáng. Trong 2 năm sắp tới giải quyết xong về cơ bản các vấn đề tồn tại về chính trị trong cán bộ trung sơ cấp và cấp uỷ viên ở cơ sở. Trong 5 năm giải quyết xong cơ bản cán bộ cơ sở còn lại là đảng viên. Số đông đảng viên lớn lên từ phong trào, trải qua tù đày dưới chế độ cũ hoặc đứt liên lạc cần được thẩm tra kết luận rõ, phải được bồi dưỡng giúp đỡ đúng mức.

d. Phát triển đảng viên:

Có kế hoạch phát triển đảng viên mới nhằm vào các phần tử ưu tú trong Đoàn thanh niên Cộng sản, công nhân trực tiếp sản xuất, lao động tiên tiến, trí thức xã hội chủ nghĩa và qua rèn luyện thử thách trong các phong trào phải đưa ra quần chúng nhận xét góp ý.

Trong 2 năm tới, phấn đấu phát triển gấp đôi số đảng viên hiện có, năm 1977 trên 300 đảng viên, năm 1978 trên 500 đảng viên, phát triển ở phường, xí nghiệp, trường học, bệnh viện, cừa hàng, HTX, cơ sở sản xuất, đơn vị võ trang. Phải nâng tỉ lệ đảng viên thành phần công nhân trong Đảng trên dưới 15%, chủ yếu là công nhân trực tiếp sản xuất. Kiện toàn các ban làm công tác xây dựng Đảng và các bộ phận tổ chức cán bộ của các ngành để giúp Quận uỷ thực hiện tốt các nhiệm vụ trên.

đ. Cách mạng trong cách làm việc:

Giản chính bộ máy hành chính vừa gọn nhẹ bên trên vừa chọn lựa một số cán bộ có năng lực tăng cường cho cơ sở. Giảm bớt thủ tục giấy tờ, hội nghị để xuống cơ sở, giúp cho cơ sở giải quyết công ciệc tại chỗ và sâu sát quần chúng.

Từ đây đến cuối năm 1977 đưa việc đi xuống cơ sở vào nề nếp, có nội dung, kể cả Quận uỷ, uỷ ban, Thủ trưởng các ban phòng quận. Phải tổ chức sắp xếp hợp lý, không để ảnh hưởng đến công việc của cơ quan đồng thời tránh gây khó khăn bị động cho cơ sở.

Để đưa cách làm việc vào nề nếp, khoa học phải qui định thành chế độ như chế độ hội nghị, báo cáo, thảnh thị, học tập, phê bình tự phê bình…

KẾT LUẬN

Các nhiệm vụ và mục tiêu trên đây có mối quan hệ hữu cơ với nhau không thể tách rời nhau, và các biện pháp trên đây cũng là một thể thống nhất nhằm bảo đảm thực hiện các nhiệm vụ và mục tiêu trên. Tiến hành cải tạo xã hội chủ nghĩa, phân bố lại lực lượng lao động, bố trí lại dân cư hợp lý, kết hợp khắc phục các hậu quả của chiến tranh và tệ nạn xã hội là nhằm tạo điều kiện để tổ chức lại sản xuất, lưu thông phân phối, xây dựng cơ cấu kinh tế theo hướng sản xuất lớn xã hội chủ nghĩa, mở đường cho sản xuất phát triển, trên cơ sở đó ổn định vững chắc đời sống nhân dân, giữ gìn an ninh chính trị và trật tự xã hội.

Ngược lại, thực hiện tốt các nhiệm vụ khôi phục và phát triển sản xuất, đẩy mạnh hoạt động các ngành kinh tế khác. ổn định đời sống nhân dân có tác dụng củng cố và phát huy thắng lợi việc thực hiện các nhiệm vụ trên. Công tác tư tưởng và công tác xã hội, trước hết phải có những con người xã hội chủ nghĩa . “Công tác xây dựng và củng cố chính quyền nhân dân, các đoàn thể quần chúng, xây dựng và củng cố Đảng, phát huy quyền làm chủ tập thể của nhân dân lao động là những điều kiện quyết định trước tiên nhằm tạo ra một phong trào cách mạng của quần chúng thật mạnh mẽ, sâu rộng, liên tục, từng bước đưa lên thành cao trào bảo đảm thực hiện thắng lợi cải tạo xã hội chủ nghĩa và xây dựng chủ nghĩa xã hội. Muốn vậy phải phát huy cho kỳ được quyền làm chủ tập thể của nhân dân lao động trên các lĩnh vực, khắc phục tệ quan liêu mạng lệnh, hách dịch, cửa quyền, vi phạm quyền làm chủ tập thể của nhân dân, cán bộ đảng viên phải nêu cao vai trò tiên phong, gương mẫu, đi đầu trong các phong trào hành động cách mạng của quần chúng.

Thông báo