Thứ Tư, ngày 22 tháng 9 năm 2021

Kỷ niệm 75 năm ngày ký Tạm ước Việt – Pháp (14/9/1946 – 14/9/2021):

Tạm ước Việt – Pháp: “Nhịp nghỉ” cần thiết cho cách mạng Việt Nam

Chủ tịch Hồ Chí Minh và Bộ trưởng Hải ngoại Pháp Marius Moutet ký Tạm ước ngày 14/9/1946. (Ảnh tư liệu)

(Stxdd.thanhuytphcm.vn) - Sau bế tắc của Hội nghị Fontainebleau, Chủ tịch Hồ Chí Minh thay mặt Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ký với Bộ trưởng Hải ngoại Pháp Marius Moutet Tạm ước Việt – Pháp 14/9 (Modus vivendi) vào 0 giờ 30 ngày 15/9/1946. Trên cơ sở tôn trọng tinh thần và một số điều khoản của Hiệp định Sơ bộ 6/3, Tạm ước là “nhịp nghỉ” cần thiết, có lợi cho cách mạng Việt Nam lúc bấy giờ.

Trước đó, Pháp đã ký với ta Hiệp định Sơ bộ ngày 6/3/1946, công nhận Việt Nam Dân chủ Cộng hòa là một quốc gia tự do trong Liên bang Đông Dương và trong khối Liên hiệp Pháp, có chính phủ, nghị viện, quân đội và tài chính riêng; đồng ý thực hiện trưng cầu dân ý tại Nam kỳ về việc tái thống nhất với Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Đổi lại, Chính phủ ta đồng ý cho 15.000 quân Pháp vào miền Bắc thay thế cho 200.000 quân Trung Hoa Quốc dân đảng để giải giáp quân Nhật. Số quân này phải rút hết khỏi Việt Nam trong vòng 5 năm. Hai bên thực hiện ngưng bắn, giữ nguyên quân đội tại vị trí hiện thời để đàm phán về chế độ tương lai của Đông Dương, về quan hệ ngoại giao giữa Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và nước ngoài, những quyền lợi kinh tế và văn hóa của Pháp ở Việt Nam...

Mặc dù vậy, Pháp vẫn muốn chia cắt đất nước ta, tiếp tục có các hành động quân sự nhằm tái chiếm Đông Dương. Đây cũng là lý do Chính phủ ta phải tiếp tục dùng biện pháp ngoại giao thông qua Hội nghị Fontainebleau, từ ngày 6/7 đến 10/9/1946. Hai bên thảo luận về: vấn đề Việt Nam gia nhập Liên hiệp Pháp; xây dựng Liên bang Đông Dương; việc thống nhất ba kỳ và cuộc trưng cầu dân ý về Nam kỳ... Tuy nhiên, Hội nghị không thành công vì phái đoàn Pháp vẫn ngoan cố với lập trường thực dân; trong thời gian đàm phán, Pháp còn ráo riết thực hiện âm mưu mở rộng chiếm đóng ở nước ta, liên tiếp vi phạm Hiệp định Sơ bộ…

Thiện chí hòa bình

Tạm ước thể hiện rõ thiện chí giải quyết căng thẳng với Pháp bằng biện pháp hòa bình, tranh thủ sự ủng hộ của dư luận Pháp và nhân dân yêu chuộng hòa bình trên thế giới. Tạm ước này hiện thực hóa quyết tâm “Tôi đến đây để xây dựng hòa bình. Tôi không muốn về nước với hai bàn tay không. Tôi muốn đem về cho nhân dân Việt Nam những kết quả cụ thể, sự hợp tác mà chúng ta đều mong ước”, như tuyên bố của Chủ tịch Hồ Chí Minh với báo Franc-Tireur (Pháp) ngày 15/8/1946[1]. Thiện chí hòa bình của Hồ Chí Minh cũng được nêu rõ trong Thư gửi Liên hợp quốc (tháng 12/1946) rằng: “Một lần nữa chúng tôi khẳng định lòng mong muốn hòa bình bằng cách chấp nhận Tạm ước 14/9/1946 mà cốt lõi là nhằm vào việc bảo vệ lợi ích và văn hóa của Pháp ở Việt Nam”.

Chủ tịch Hồ Chí Minh và đoàn đại biểu Việt Nam gặp gỡ một số Việt kiều tại Pháp, năm 1946. (Ảnh tư liệu) Chủ tịch Hồ Chí Minh và đoàn đại biểu Việt Nam gặp gỡ một số Việt kiều tại Pháp, năm 1946. (Ảnh tư liệu)

Tạm ước thực sự là nỗ lực rất lớn của Chủ tịch Hồ Chí Minh nhằm tránh sự đổ vỡ hoàn toàn Hội nghị Fontainebleau, với hy vọng có các giải pháp hòa bình, dù rất mong manh. Trong bài viết Những bài học ngoại giao trước ngày toàn quốc kháng chiến đăng trên Báo điện tử Chính phủ ngày 16/12/2016, nguyên Đại sứ đặc mệnh toàn quyền nước ta tại Australia Hoàng Vĩnh Thành nhận xét: “Quyết định của Hồ Chủ tịch đàm phán và ký với phía Pháp Tạm ước 14/9 vào giờ phút cuối cùng là nhằm cứu vãn hòa hoãn, tránh một sự đổ vỡ hoàn toàn quan hệ hai nước, giữ gìn khả năng tiếp tục thương lượng hòa bình về một giải pháp song phương lâu dài”.

Thực tế, trong suốt thời gian ở Pháp, Bác Hồ đã có những buổi gặp gỡ nhân dân Pháp, Việt kiều, doanh nghiệp với tư cách làm thượng khách của Chính phủ Pháp. Người mở họp báo, khẳng định: tán thành một “liên kết” với Pháp về kinh tế và văn hóa trong khuôn khổ Liên hiệp Pháp; Liên bang Đông Dương chủ yếu là để liên kết Việt Nam, Lào và Campuchia về kinh tế, chứ không thể biến thành một phủ toàn quyền trá hình. Nước đi này của Chủ tịch Hồ Chí Minh vừa tranh thủ dư luận Pháp vừa động viên tinh thần phái đoàn ta trong Hội nghị[2].

Mềm dẻo trong sách lược, cứng rắn trên nguyên tắc

Tạm ước 14/9 thể hiện biện pháp ngoại giao “dĩ bất biến ứng vạn biến”, tức là có thể linh hoạt, “mềm dẻo trong sách lược” nhưng giữ vững chiến lược cách mạng, “cứng rắn trên nguyên tắc”. “Cứng rắn trên nguyên tắc” chính là chấp nhận tiếp tục nhượng bộ thêm cho Pháp một số quyền lợi về kinh tế và văn hóa sau Hiệp định Sơ bộ, nhưng nhất định không vi phạm độc lập dân tộc. Tạm ước giữ nguyên tình trạng chiếm đóng của các bên tham chiến, đình chỉ mọi xung đột…

Phát lệnh toàn quốc kháng chiến tại một cửa ngõ thủ đô Hà Nội. (Ảnh tư liệu) Phát lệnh toàn quốc kháng chiến tại một cửa ngõ thủ đô Hà Nội. (Ảnh tư liệu)

“Mềm dẻo trong sách lược” thể hiện ở việc ta lựa chọn tạm thời nhân nhượng để có thời gian chuẩn bị toàn diện cho một cuộc kháng chiến trường kỳ bởi Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh biết rõ dã tâm của thực dân Pháp là không từ thủ đoạn nào để chiếm nước ta một lần nữa. Lựa chọn này hoàn toàn phù hợp với bối cảnh cách mạng Việt Nam đang đối mặt với rất nhiều thách thức: sự chênh lệch lực lượng giữa ta và Pháp rất lớn; chính quyền mới “không đồng minh, không tiền và hầu như không vũ khí” như cách nói của Cố vấn chính trị Cao ủy Pháp ở Đông Dương Léon Pignon, nhưng đang phải giải quyết hàng loạt vấn đề lớn như giặc đói, giặc dốt... Một cuộc đối đầu trực diện với Pháp lúc này rõ ràng là không cân sức và sẽ khiến Chính phủ ta rất bất lợi.

Trong khi Hiệp định Sơ bộ giúp ta phân hóa hàng ngũ đối phương, loại bớt kẻ thù, tránh cùng lúc đối phó với nhiều kẻ thù, thì Tạm ước thể hiện rõ tính trì hoãn, nhằm tạo điều kiện tiếp tục củng cố chính quyền cách mạng non trẻ, chuẩn bị lực lượng cho cuộc kháng chiến “dài hơi” không thể tránh khỏi. Đây là kinh nghiệm được Chủ tịch Hồ Chí Minh vận dụng sáng tạo từ bài học Nga xô viết ký hiệp ước Nga - Đức vào năm 1918 (Hòa ước Brest-Litovsk) để rút khỏi Thế chiến I. Theo đó, tạm thời hy sinh không gian, tranh thủ thời gian để củng cố, xây dựng lực lượng cách mạng.

Nhờ tranh thủ vài tháng hòa hoãn, các lực lượng vũ trang tiếp tục được xây dựng. Từ chỗ 5.000 quân lúc Cách mạng tháng Tám năm 1945, quân ta đã có khoảng 85.000 người vào trước thời điểm bùng nổ toàn quốc kháng chiến. Du kích tự vệ cũng lên đến gần 1 triệu.

Đảng và Chính phủ đã tích cực chuẩn bị mọi phương diện cho cuộc kháng chiến. Việt Bắc được chọn làm căn cứ địa kháng chiến, với một số huyện của tỉnh Thái Nguyên và Tuyên Quang, làm nơi đóng các cơ quan Trung ương. Đầu tháng 11/1946, cơ sở vật chất, kỹ thuật của cuộc kháng chiến được chuyển về các căn cứ địa. Các binh công xưởng, xí nghiệp, nhà máy…, với hàng vạn tấn máy móc, nguyên vật liệu được vận chuyển, sơ tán lên Việt Bắc để vừa sản xuất vừa tiếp tục chiến đấu. Đầu tháng 12, các cơ quan Trung ương Đảng, Chính phủ, Mặt trận, quân đội đã chuyển về các tỉnh Hà Đông, Sơn Tây, rồi lên Việt Bắc vào tháng 3/1947…

“Nhịp nghỉ” quan trọng sau Tạm ước cũng tạo ra thời cơ cho 1.100 trong tổng số 1.230 thôn ở Nam bộ nổi dậy lật đổ ngụy quyền ở cơ sở, khôi phục chính quyền nhân dân. Vài tháng là thời gian ngắn ngủi nhưng vô cùng quý báu để cả nước chuẩn bị sẵn sàng và đồng loạt đứng lên theo lời kêu gọi Toàn quốc kháng chiến của Chủ tịch Hồ Chí Minh vào ngày 19/12/1946.

Những thành quả cách mạng vẻ vang trên là bằng chứng đanh thép cho sự nhạy bén, tài tình trong chỉ đạo của Đảng, đường lối ngoại giao linh hoạt, sáng tạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh khi ký Tạm ước, hiện thực hóa lời khẳng định của Bác lúc ký Tạm ước là “Cuối cùng nhất định chúng tôi sẽ thắng!”. TS. Đặng Đình Quý, Đại sứ đặc mệnh toàn quyền, Trưởng Phái đoàn Đại diện thường trực Việt Nam tại Liên hợp quốc, nguyên Thứ trưởng Bộ Ngoại giao, cho rằng: “Trong bối cảnh khó khăn của tình hình trong nước và quốc tế, khi thế và lực của ta còn yếu, vận dụng nhuần nhuyễn phương châm “dĩ bất biến, ứng vạn biến”, ngoại giao ta đã hết sức linh hoạt, sáng tạo trong xử lý các tình huống, nhờ đó đã phát huy vai trò và tính tiên phong trong bảo vệ nền độc lập và chính quyền cách mạng non trẻ”[3].

Dù có những lúc hòa hoãn, nhượng bộ nhưng với thắng lợi trong kháng chiến chống thực dân Pháp của quân dân ta cũng đã đập tan luận điệu xuyên tạc rằng Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh “sợ Pháp”, “bán nước”… của các phần tử phản động.

Hoài Phong

---------

 

[1] Dẫn lại theo Trung Hiếu, Tạm ước Việt - Pháp 14/9/1946: Hồ Chí Minh chân thành muốn hòa bình, Báo điện tử Đài Tiếng nói Việt Nam (vov.vn), ngày 14/9/2016.

[2] Trung Hiếu, tài liệu đã dẫn.

[3] TS Đặng Đình Quý, Ngoại giao trước Toàn quốc kháng chiến và bài học về công tác đối ngoại hiện nay, Báo Quân đội nhân dân, ngày 15/12/2016.


Ý kiến bạn đọc

refresh
 

Tổng lượt bình luận

Tin khác

Thông báo