Thứ Tư, ngày 18 tháng 9 năm 2019

Giá trị lý luận và thực tiễn về công tác xây dựng Đảng của tư tưởng Hồ Chí Minh qua Di chúc

Chủ tịch Hồ Chí Minh phát biểu tại lễ kỷ niệm lần thứ 35 ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam, ngày 3/2/1965. (Ảnh tư liệu)

(Thanhuytphcm.vn) - Trong tác phẩm Đường kách mệnh (1927), Hồ Chí Minh chỉ rõ điều kiện tiên quyết dẫn đến thành công của cách mạng “trước hết phải có đảng cách mạng… Đảng có vững cách mạng mới thành công”1. Trước khi đi xa, trong Di chúc, Chủ tịch Hồ Chí Minh căn dặn “việc cần phải làm trước tiên là chỉnh đốn lại Đảng”2. Đây là một trong những yêu cầu khách quan, là điều kiện tiên quyết để Đảng giữ vững vị thế một đảng cầm quyền, với trọng trách là người cầm lái, người dẫn đường, đưa cách mạng Việt Nam đến bến bờ thắng lợi. Để xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh, Hồ Chí Minh nhấn mạnh, phải xây dựng Đảng trên tất cả các mặt: tư tưởng, chính trị, tổ chức và đạo đức. Xây dựng Đảng là vấn đề lớn, thường xuyên được Đảng Cộng sản Việt Nam quan tâm trong suốt tiến trình lịch sử đấu tranh cách mạng của Đảng. Giai đoạn hiện nay, xây dựng Đảng càng được sự quan tâm của toàn dân, của hệ thống chính trị, là yêu cầu tất yếu khách quan của sự nghiệp đổi mới.

Chủ tịch Hồ Chí Minh, Người quán triệt và vận dụng, phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin về xây dựng Đảng vô sản vào điều kiện cụ thể của nước ta để thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam. Người khẳng định: “Cách mệnh trước hết phải có cái gì? Trước hết phải có đảng cách mệnh, để trong thì vận động và tổ chức quần chúng; ngoài thì liên lạc với dân tộc bị áp bức và vô sản giai cấp mọi nơi. Đảng có vững cách mệnh mới thành công, cũng như người cầm lái có vững thuyền mới chạy”3. Vì vậy, xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh là vấn đề then chốt, có ý nghĩa quyết định đến uy tín và năng lực lãnh đạo của Đảng đối với cách mạng, quyết định sự thành, bại của cách mạng.

Để Đảng đủ sức lãnh đạo cách mạng, theo Hồ Chí Minh, đoàn kết thống nhất trong Đảng là một trong những nguyên tắc cơ bản nhất trong xây dựng Đảng, là sự vận động và phát triển theo đúng quy luật của Đảng. Bởi, nếu trong Đảng “trống đánh xuôi, kèn thổi ngược, thì Đảng làm sao đủ sức lãnh đạo cách mạng”? và “Đảng ta tuy đông nhưng khi tiến đánh chỉ như một người”, vì trong Đảng có sự thống nhất từ tư tưởng đến hành động. Đó là sự đoàn kết tuyệt đối và chặt chẽ, mà trong Di chúc Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhấn mạnh: “Các đồng chí từ Trung ương đến các chi bộ cần phải giữ sự đoàn kết nhất trí của Đảng như giữ gìn con ngươi của mắt mình”4. Đoàn kết trong Đảng là một trong những nguyên nhân cơ bản tạo ra sức mạnh nội sinh của tổ chức Đảng, không chỉ vậy, đoàn kết thống nhất trong Đảng còn là điều kiện tiên quyết để xây dựng, củng cố khối đoàn kết toàn dân tộc. Người chỉ rõ: “Nhờ đoàn kết chặt chẽ, một lòng, một dạ phục vụ giai cấp, phục vụ nhân dân, phục vụ Tổ quốc, cho nên từ ngày thành lập đến nay, Đảng ta đã đoàn kết, tổ chức và lãnh đạo nhân dân ta hăng hái đấu tranh tiến từ thắng lợi này đến thắng lợi khác”5. Vì vậy, xây dựng và giữ gìn sự đoàn kết thống nhất trong Đảng luôn được Chủ tịch Hồ Chí Minh coi là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu, là nền tảng cho mọi thành công. Đoàn kết thống nhất không chỉ là vấn đề sinh tử của từng tổ chức Đảng các cấp, mà còn là sinh mệnh của toàn Đảng, là vấn đề sống còn của cách mạng.

Xây dựng sự đoàn kết thật sự trong Đảng, rất cần tình đồng chí, thương yêu và chia sẻ với nhau, vì vậy, khi bổ sung nội dung Di chúc năm 1968, Người thêm cụm từ “phải có tình đồng chí yêu thương lẫn nhau”.

Vì người đời không phải thánh thần, không ai tránh khỏi sai lầm, khuyết điểm, cho nên chúng ta không sợ khuyết điểm, chỉ sợ có lỗi mà không sửa, có lỗi mà giấu giếm, lừa cấp trên, chèn ép cấp dưới dẫn đến tự phê bình và phê bình hình thức, chung chung, vì sợ “mất uy tín”, “mất thể diện”. Tự phê bình và phê bình đúng sẽ “chẳng những không làm giảm thể diện và uy tín của cán bộ, của Đảng. Trái lại, còn làm cho sự lãnh đạo mạnh mẽ hơn, thiết thực hơn, do đó mà uy tín và thể diện càng tăng thêm”… Do đó, để thực hiện lời căn dặn của Hồ Chí Minh về “thường xuyên và nghiêm chỉnh tự phê bình và phê bình” và phải được tiến hành trên tinh thần “có tình đồng chí thương yêu lẫn nhau”, trong mọi hoàn cảnh, ở mọi cấp, mỗi tổ chức Đảng phải thường xuyên nhìn thẳng vào sự thật, phải “có gan thừa nhận khuyết điểm của mình, vạch rõ những cái đó, vì đâu mà có khuyết điểm đó, xét rõ hoàn cảnh sinh ra khuyết điểm đó rồi tìm kiếm mọi cách để sửa chữa khuyết điểm đó”6 và “mỗi cán bộ, mỗi đảng viên hằng ngày phải tự kiểm điểm, tự phê bình, tự sửa chữa như mỗi ngày phải rửa mặt. Được như thế thì trong Đảng sẽ không có bệnh mà Đảng sẽ mạnh khỏe vô cùng”7.

Sức mạnh đoàn kết, thống nhất trong Đảng được tạo nên bởi tổ chức mà tổ chức đó là sự kết nối chặt chẽ giữa các đảng viên của Đảng, trong tình đồng chí thương yêu lẫn nhau, cho nên, theo Hồ Chí Minh, “hiểu chủ nghĩa Mác - Lênin tức là phải sống với nhau đầy tình nghĩa như vậy. Nếu thuộc bao nhiêu sách mà sống không có tình có nghĩa thì sao gọi là hiểu chủ nghĩa Mác - Lênin được”8. Tình đồng chí ở đây, ngoài việc tuân thủ những nguyên tắc về tổ chức, Điều lệ và chế độ sinh hoạt Đảng còn cần phải xuất phát từ tấm lòng nhân ái, bao dung của mỗi con người, của tình đồng chí từng “nếm mật, nằm gai”, “chia ngọt, sẻ bùi”... Thực tế cho thấy, đã có không ít cơ quan, đơn vị mất đoàn kết từ những việc tưởng chừng nhỏ nhặt nhưng rất quan trọng trong đời thường mà xuất phát điểm chính là do suy nghĩ và hành động thiếu “tình đồng chí thương yêu lẫn nhau”. Tại một tổ chức, nếu đội ngũ cán bộ chủ chốt mất đoàn kết, không thống nhất trong tư tưởng và hành động thì ở nơi đó sẽ có tình trạng cấp trên và cấp dưới cách biệt nhau, là đồng chí với nhau nhưng thường không nói trước mặt mà chỉ nói sau lưng, vì thế, cần phải phát huy vai trò nêu gương, thống nhất giữa nói và làm trước hết từ cấp ủy và đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý.

Bằng trái tim thương yêu rộng lớn đầy khoan dung, nhân ái và sự gương mẫu tự phê bình và phê bình của chính mình, Hồ Chí Minh căn dặn tự phê bình và phê bình trong Đảng phải được tiến hành thường xuyên, liên tục; từ trên xuống và từ dưới lên; không chỉ thực hiện trong nội bộ Đảng mà cần phải mở trong nhân dân; bảo đảm dân chủ, công khai và gắn với kế hoạch sửa chữa khuyết điểm; có thưởng phạt gắn với biểu dương, nhân rộng gương điển hình. Trong đó, dân chủ là một trong những yếu tố quan trọng để việc thực hiện nguyên tắc tự phê bình và phê bình trong Đảng vừa nghiêm túc vừa đạt hiệu quả cao trên cơ sở tình đồng chí thương yêu lẫn nhau. Vì dân chủ đã “khiến cho cán bộ cả gan nói, cả gan đề ra ý kiến”, để nhân dân tham gia giám sát, góp ý cho cán bộ, đảng viên và thực hành dân chủ là cái chìa khóa vạn năng có thể giải quyết mọi khó khăn…

Cùng với sự đoàn kết, nhất trí trong Đảng và phải có tình đồng chí yêu thương lẫn nhau, thì sự nghiệp cách mạng phát triển nhờ vai trò lãnh đạo của Đảng cách mạng, trong đó, phải nhấn mạnh đến những người cách mạng tiên phong, ưu tú nhất. Trong tác phẩm Đường kách mệnh, Nguyễn Ái Quốc đặt lên hàng đầu Tư cách một người cách mệnh, với 23 điểm về tư cách một người cách mạng xử lý đúng đắn quan hệ tự mình, đối với người khác và đối với công việc. Đó là những chuẩn mực về đạo đức, trí tuệ, bản lĩnh và phong cách cần có ở người cách mạng như: Cần, kiệm, cả quyết sửa lỗi mình, vị công vong tư, không hiếu danh, không kiêu ngạo, nói thì phải làm, giữ chủ nghĩa cho vững, ít lòng ham muốn về vật chất… những phẩm chất đạo đức đó phản ánh bản chất cách mạng của những chiến sĩ tiên phong và Đảng chân chính cách mạng suốt đời đấu tranh vì lợi ích của dân tộc, đất nước và nhân dân. Trong Đường kách mệnh – tác phẩm đầu tiên mang tính lý luận đầu tiên của Đảng, Hồ Chí Minh đặt “Tư cách của một người cách mệnh” lên hàng đầu, tức là đặt đạo đức, nhân cách lên hàng đầu. Trong bảng giá trị gồm 23 tiêu chí, chỉ riêng yêu cầu “đối với mình”, Hồ Chí Minh đã nêu ra 14 tiêu chí rất căn bản cần phải rèn luyện, trong đó đặc biệt nổi bật là: người cách mệnh “phải giữ chủ nghĩa cho vững” và “ít lòng tham muốn về vật chất”. Muốn vậy, người cách mệnh phải biết hy sinh, phải suốt đời học hỏi, phải cần kiệm, không hiếu danh, không kiêu ngạo, phải cả quyết sửa lỗi mình, vị công vong tư, nói thì phải làm; người cách mệnh phải “giữ chủ nghĩa cho vững, phải ít lòng tham muốn về vật chất” để “cách mệnh đến nơi”, tức là triệt để. Vì dự liệu được những khó khăn gian khổ của cách mạng, Hồ Chí Minh đặc biệt chú ý xây dựng hệ thống phẩm chất đạo đức của người cách mạng, vì hơn ai hết, Người hiểu được sức mạnh của đạo đức “Cái đức là gốc”. Người cách mạng phải có đạo đức cách mạng để luôn giữ vững chí khí cách mạng, Người khẳng định: “Sức có mạnh mới gánh được nặng và đi được xa. Người cách mạng phải có đạo đức cách mạng làm nền tảng, mới hoàn thành được nhiệm vụ cách mạng vẻ vang”9. Đặc biệt, trong điều kiện Đảng trở thành đảng cầm quyền thì vấn đề đạo đức càng quan trọng vì quyền lực rất dễ dẫn đến sự tha hóa, biến chất của con người. Vì vậy, trong Di chúc, “Trước hết nói về Đảng”10, Hồ Chí Minh không nhấn mạnh đến quyền lực của Đảng, mà nhấn mạnh đến trọng trách của Đảng với dân, với nước, vì đó là sứ mệnh của Đảng.

Khi Chủ tịch Hồ Chí Minh viết Di chúc, là thời điểm cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ta đang bước vào giai đoạn khó khăn, nhưng Người đã dự liệu được những công việc cần kíp ngay sau đó: “Ngay sau khi cuộc chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ta đã hoàn toàn thắng lợi, công việc toàn Đảng, toàn quân và toàn dân ta phải ra sức làm là mau chóng hàn gắn vết thương nghiêm trọng do đế quốc Mỹ gây ra trong cuộc chiến tranh xâm lược dã man. Đó là một công việc cực kỳ to lớn, phức tạp và khó khăn”11. Để giải quyết công việc cực kỳ to lớn, phức tạp và khó khăn đó, điều kiện tiên quyết của chúng ta là phải hoạch định kế hoạch rõ ràng, xác định mục tiêu, nhiệm vụ… nhưng để hoàn thành công việc trên, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ ra ngay điều kiện tiên quyết “việc cần phải làm trước tiên là chỉnh đốn lại Đảng”12. Chỉnh đốn lại Đảng nhằm nâng cao năng lực, sức chiến đấu của Đảng, để Đảng đủ sức mạnh ngang tầm với nhiệm vụ mới, nhất là bước sang giai đoạn lãnh đạo Nhà nước xây dựng chủ nghĩa xã hội.

Trong Di chúc, Người căn dặn “Đảng ta là một Đảng cầm quyền. Mỗi đảng viên và cán bộ phải thực sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, thật sự cần kiệm liêm chính, chí công vô tư. Phải giữ gìn Đảng ta thật trong sạch, phải xứng đáng là người lãnh đạo, là người đày tớ thật trung thành của nhân dân”13. Vì vậy, khi đề cập đến vai trò, chức năng của Đảng trong giai đoạn là đảng cầm quyền, Hồ Chí Minh luôn nhấn mạnh đến trọng trách, trách nhiệm của Đảng “cần có kế hoạch thật tốt để phát triển kinh tế và văn hóa, nhằm không ngừng nâng cao đời sống của nhân dân”14. Trong một đoạn văn ngắn, ba lần Người nhấn mạnh chữ PHẢI, thì đó là mệnh lệnh cuộc sống; bốn lần nhấn mạnh chữ THẬT và THẬT SỰ để nhấn mạnh yêu cầu về sự trung thực trong đạo đức của mỗi đảng viên, cán bộ. Đảng muốn giữ vững được vị trí, vai trò của Đảng thì bản thân mỗi đảng viên phải nêu cao tính tiên phong, gương mẫu, là tấm gương đạo đức sáng ngời, đủ sức hấp dẫn để thu phục, thuyết phục và chinh phục nhân dân đi theo cách mạng. Người luôn nhấn mạnh đến trách nhiệm phục vụ nhân dân của cán bộ, đảng viên: “làm cán bộ tức là suốt đời làm đầy tớ trunh thành của nhân dân. Mấy chữ a, b, c này không phải ai cũng thuộc đâu, phải học mãi, học suốt đời mới thuộc được”15. Làm đầy tớ một cách thật sự không phải là việc dễ dàng, nhưng nếu không như vậy thì Đảng không còn lý do để tồn tại. Là Đảng cầm quyền, Đảng phải chịu trách nhiệm về sự suy thịnh, hưng vong của dân tộc nên Đảng phải thật sự là “đạo đức, là văn minh”; trong đó, đạo đức, tư cách người cách mạng là điểm cốt lõi, là yêu cầu hàng đầu trong văn hóa Đảng.

Hơn 30 năm lãnh đạo sự nghiệp đổi mới đất nước, Đảng đã khẳnh định bản lĩnh chính trị khi nhận diện rõ ràng những nguy cơ trong điều kiện duy nhất là Đảng cầm quyền. Hội nghị toàn quốc giữa nhiệm kỳ Đại hội lần thứ VII (năm 1994) đã xác định 4 nguy cơ: Tụt hậu xa hơn về kinh tế; chệch hướng; tệ tham nhũng quan liêu; diễn biến hòa bình. Đến Văn kiện Đại hội lần thứ XI, Đảng đánh giá: “tình trạng suy thoái về chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên gắn với tệ quan liêu, tham nhũng, lãng phí là nghiêm trọng… Trong nội bộ, những biểu hiện xa rời mục tiêu của chủ nghãi xã hội, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” có những diễn biến phức tạp”16. Lần đầu tiên trong Văn kiện Đảng chỉ ra thêm nguy cơ bên trong đối với Đảng, đó là “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. Tiếp đến, Văn kiện Đại hội lần thứ XII của Đảng xác định sáu nhiệm vụ trọng tâm của nhiệm kỳ, trong đó, nội dung nhiệm vụ thứ nhất khẳng định: “Tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ”17. Liên tiếp hai nhiệm kỳ Đại hội lần thứ XI và XII, Đảng ban hành Nghị quyết chuyên đề về Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay, chứng tỏ rằng, đây là yêu cầu cấp thiết và khách quan nhằm tạo sức mạnh nội sinh, nâng cao sức chiến đấu để hoàn thành trọng trách, trách nhiệm của Đảng đối với dân tộc, với nhân dân.

Hiện nay, bản thân Đảng và mỗi cán bộ, đảng viên phải nhận thức sâu sắc về công tác phòng, chống nguy cơ suy thoái của đảng cầm quyền là cấp thiết, lâu dài. Bài học xương máu về việc đánh mất chính quyền của những người cộng sản và sự sụp đổ của mô hình chủ nghĩa xã hội hiện thực ở Liên Xô và Đông Âu cho thấy, việc nhận thức và phòng chống nguy cơ suy thoái của Đảng trong điều kiện Đảng cầm quyền luôn có ý nghĩa thời sự.

Hơn bao giờ hết, trong giai đoạn là Đảng cầm quyền, mỗi đảng viên, cán bộ phải giữ được đạo đức, phải có bản lĩnh để vượt qua những cám dỗ như tiền bạc, danh vị, quyền chức để trở thành tấm gương sáng trước nhân dân, có như vậy mới chinh phục được nhân dân, trở thành biểu tượng trong lòng nhân dân.

Không ngừng xây dựng, chỉnh đốn Đảng cả về tư tưởng, chính trị, tổ chức và đạo đức, đồng thời quán triệt Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, nội dung xây dựng Đảng phải được thực hiện trên cả bốn mặt: tư tưởng, chính trị, tổ chức và đạo đức. Việc Đảng bổ sung, nhấn mạnh thêm nội dung xây dựng Đảng về đạo đức là hoàn toàn phù hợp với tư tưởng Hồ Chí Minh.

Để phòng, chống các nguy cơ, Đảng cần tự chỉnh đốn, tự đổi mới nhằm tăng “sức đề kháng” miễn nhiễm với các căn bệnh làm suy yếu Đảng. Thậm chí, Đảng phải coi đây là quy luật tồn tại và phát triển, bảo đảm cho Đảng luôn ngang tầm nhiệm vụ cách mạng, xứng đáng là Đảng cầm quyền. Trên cơ sở đó, tác giả đề xuất một số giải pháp sau:

Đảng cầm quyền phải thật sự tiêu biểu cho trí tuệ của dân tộc và vươn lên ngang tầm thời đại, do đó, bản thân Đảng và mỗi cán bộ, đảng viên phải không ngừng tự học, tự nâng cao trình độ chuyên môn. Từ đó, trong công việc hoạch định đường lối, chính sách và tổ chức thực hiện khẳng định bản thân Đảng và mỗi cán bộ, đảng viên là “hiện thân của trí tuệ, danh dự và lương tâm của dân tộc”18.

Đường lối, chủ trương của Đảng phải vì mục đích an dân, mỗi cán bộ, đảng viên phải vừa là người lãnh đạo, vừa là người đầy tớ trung thành của nhân dân để đoàn kết toàn dân hướng tới mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”.

Kiên quyết đấu tranh chống các biểu hiện của căn bệnh chủ nghĩa cá nhân, chủ nghĩa cơ hội. Đây là hiểm họa trong Đảng, là nguy cơ làm suy yếu sức chiến đấu của Đảng. Vì vậy, cần dũng cảm đấu tranh, vạch mặt, kiên quyết loại trừ các phần tử cơ hội ra khỏi Đảng, ra khỏi các vị trí quan trọng trong bộ máy Nhà nước.

Xây dựng đội ngũ cán bộ, rèn luyện đạo đức, trí tuệ và bản lĩnh cách mạng cho mỗi cán bộ, đảng viên, vì đây là khâu quyết định sự thành bại của cách mạng. Đạo đức cách mạng là gốc, là nền tảng của người cách mạng, từ cái gốc, cái nền tảng này nuôi dưỡng con người trưởng thành, vì vậy người cách mạng phải có đạo đức cách mạng làm nền tảng mới hoàn thành được nhiệm vụ cách mạng.

Cách mạng muốn thắng lợi phải có Đảng lãnh đạo, nhưng điều đó không có nghĩa cứ có Đảng là cách mạng thắng lợi, vấn đề là “Đảng có vững cách mạng mới thành công”, mà một trong những điều kiện tiên quyết giữ cho Đảng vững là mỗi cán bộ, đảng viên phải có tư cách đạo đức. Xây dựng Đảng về đạo đức là bảo đảm yếu tố cần thiết để giữ vững, bảo vệ nhân cách đảng viên, làm cho mỗi đảng viên xứng đáng với danh hiệu cao quý của những người đứng trong đội ngũ tiên phong; đồng thời, bảo đảm cho Đảng trong sạch, vững mạnh về mọi mặt, từ chính trị đến tư tưởng, tổ chức và đạo đức.

TS Trần Thị Kim Ninh

Học viện Chính trị khu vực II

_____________________________

[1] Hồ Chí Minh, toàn tập, Nhà xuất bản CTQG, HN.2011, tập 2, tr.289

[2] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, tập 12, tr.616

[3] Hồ Chí Minh: Toàn tập, sđd, tập 2, tr.289.

[4] Hồ Chí Minh: Toàn tập, sđd, tập 15, tr. 622.

[5] Hồ Chí Minh: Toàn tập, sđd, tập 15, tr. 621-622

[6] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.5, tr.301

[7] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.5, tr.279

[8] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.15, tr.668

[9] Hồ Chí Minh, Toàn tập, sđd, t11, tr.601

[10] Hồ Chí Minh, Toàn tập, sđd, t15, tr 616

[11] Hồ Chí Minh, Toàn tập, sđd, t15, tr 616

[12] Hồ Chí Minh, Toàn tập, sđd, t15, tr 616

[13] Hồ Chí Minh, Toàn tập, sđd, t15, tr.621-622

[14] Hồ Chí Minh, Toàn tập, sđd, t15, tr.622

[15] Hồ Chí Minh, Toàn tập, sđd, t15, tr.670

[16] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, NXB CTQG, HN.2011, tr.29

[17] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, NXB CTQG, HN.2016, tr.217

[18] Hồ Chí Minh, toàn tập, NXB CTQG, HN.2000, t7, tr.517


Ý kiến bạn đọc

refresh
 

Tổng lượt bình luận

Tin khác

Thông báo