Thứ Bảy, ngày 22 tháng 1 năm 2022

Cách làm, kinh nghiệm trong công tác thẩm tra, xác minh, xác định dấu hiệu vi phạm

(Stxdd.thanhuytphcm.vn) - Theo Quy định số 22-QĐ/TW, ngày 28 tháng 7 năm 2021 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII về công tác kiểm tra, giám sát và thi hành kỷ luật của Đảng thì công tác thẩm tra, xác minh là một bước quan trọng khi thực hiện kiểm tra, giám sát, giúp phát hiện sớm, kịp thời dấu hiệu vi phạm và vi phạm (nếu có) để cảnh báo, nhắc nhở, không để vi phạm ít nghiêm trọng trở thành nghiêm trọng.

Cách làm, giải pháp

Thẩm tra, xác minh trong công tác kiểm tra, giám sát của Đảng là một trong những khâu quan trọng và khó khăn nhất của công tác kiểm tra, đòi hỏi cán bộ phải vừa nắm vững các nguyên tắc tổ chức và sinh hoạt đảng; vừa có trình độ nghiệp vụ, có bản lĩnh vững vàng, trung thực, khách quan. Kết quả và chất lượng của thẩm tra, xác minh ảnh hưởng trực tiếp đến quyết định cuối cùng của tổ chức đảng có thẩm quyền đối với nội dung và đối tượng kiểm tra, giám sát; đồng thời, kết quả xác minh cũng là cơ sở để Ban Thường vụ Đảng ủy nắm rõ tình hình của cơ quan, đơn vị; qua đó, có những lãnh đạo, chỉ đạo kịp thời để thực hiện tốt hơn nhiệm vụ chính trị và công tác xây dựng Đảng tại mỗi cơ quan, đơn vị.

Do đó, trước khi có nhận định, đánh giá về một vấn đề có khả năng sai phạm hoặc khi đã phát hiện vấn đề nhưng chưa xác định rõ hành vi và hậu quả của hành vi thì cần phải tiến hành thẩm tra, xác minh dựa trên tình hình thực tế tại mỗi cơ quan, đơn vị. Cách thức triển khai việc thẩm tra, xác minh gồm 3 bước sau:

Bước 1: Tham mưu cho Ban Thường vụ Đảng ủy thành lập Tổ Kiểm tra - xác minh với cơ cấu nhiều thành phần cùng tham dự.

Bước 2: Ban hành kế hoạch triển khai việc xác minh, trong đó, phân công thành viên Tổ theo từng nhóm nhỏ phụ trách nội dung xác minh cụ thể; tiến hành ký kết kế hoạch phối hợp giữa Tổ trưởng Tổ Kiểm tra - xác minh với lãnh đạo của cơ quan, đơn vị để phục vụ việc cung cấp hồ sơ, tài liệu và triển khai công việc với các cá nhân của cơ quan, đơn vị.

Bước 3: Tiến hành việc xác minh và đánh giá kết quả việc xác minh. Đây là bước thực hiện trọng tâm của cả quá trình thẩm tra, xác minh, cần chặt chẽ, có quy trình, trình tự phù hợp với từng nội dung, lĩnh vực mà mình kiểm tra; phát huy tính tự giác, tự phê bình và tự kiểm tra của đối tượng được kiểm tra, đối chiếu đầy đủ các quy định, hướng dẫn của Đảng, pháp luật của Nhà nước và Điều lệ, quy định của các tổ chức đoàn thể chính trị - xã hội… đảm bảo sự công khai, minh bạch, khách quan, thuyết phục.

Để đảm bảo hiệu quả thẩm tra, xác minh, xuyên suốt quy trình 3 bước thẩm tra, xác minh trên, cần thực hiện 5 giải pháp cụ thể như sau:

Thứ nhất, kỹ thuật thu thập thông tin, hồ sơ: Thông tin, hồ sơ được thu thập, khai thác từ nhiều nguồn và thực hiện xuyên suốt 3 giai đoạn: Giai đoạn trước, trong và sau khi triển khai việc thẩm tra, xác minh:

- Thu thập trước khi triển khai kế hoạch thẩm tra, xác minh: đây là việc thu thập không chính thức từ các cá nhân có liên quan, các phòng ban chuyên môn, v.v… và cũng là tiền đề, cơ sở để thực hiện xác minh. Bởi lẽ, nếu việc thu thập này tiến hành sau khi triển khai kế hoạch, việc thu thập sẽ vô cùng khó khăn bởi không loại trừ hành vi làm sai lệch thông tin thu thập khi công bố kế hoạch thẩm tra, xác minh.

- Thu thập trong giai đoạn thực hiện thẩm tra, xác minh: đây là những thông tin, hồ sơ do đối tượng xác minh cung cấp, những cá nhân có liên quan hoặc những cá nhân biết về vụ việc cung cấp một cách chính thức…

- Thu thập sau khi thẩm tra, xác minh để hoàn tất hồ sơ và thực hiện các bước xử lý tiếp theo (nếu có). Bước này để hoàn thiện các hồ sơ, tài liệu đã được thu thập.

Thứ hai, phương thức tiếp cận các nguồn thông tin. Trong quá trình thẩm tra, xác minh, cần tiếp cận đa dạng nguồn tin, phân loại và đánh giá các nguồn thông tin đóng vai trò quan trọng và phục vụ trực tiếp cho việc đưa ra nhận định cũng như đánh giá kết quả xác minh. Một số nguồn thông tin cơ bản trong quá trình thẩm tra, xác minh: nguồn thông tin do cá nhân tự nguyện cung cấp; thông tin từ việc giải trình, giải thích của các bên có liên quan theo yêu cầu của Tổ; thông tin từ việc các bên trao đổi với nhau xuyên suốt quá trình thẩm tra, xác minh.

Thứ ba, thông qua đối chất nhằm triệt để giải quyết mâu thuẫn từ trong mâu thuẫn. Bên cạnh việc thu thập và tiếp cận các nguồn thông tin, trao đổi qua lại giữa các cá nhân liên quan vụ việc là một bước quan trọng trong quá trình xác minh thông tin. Trao đổi, đối chất qua lại sẽ làm phát sinh những mâu thuẫn giữa các bên liên quan, sẽ phát hiện những hành vi vi phạm (nếu có). Qua trao đổi giữa các bên liên quan, tập trung phân tích, sàng lọc công khai các nguồn thông tin từ dư luận, từ tố cáo, phản ánh. Tổ thẩm tra, xác minh sẽ tiếp tục đào sâu, làm rõ những thông tin mâu thuẫn để làm rõ bản chất vấn đề. Trao đổi qua lại như trên sẽ có tác dụng và sức mạnh như cuộc đấu lý và đấu trí công khai, dân chủ nên hoạt động thẩm tra, xác minh sẽ rõ ràng và chính xác, góp phần quan trọng để kết luận kiểm tra đạt “tâm phục, khẩu phục”.

Thứ tư, thận trọng trong việc đưa ra nhận xét, đánh giá kết quả xác minh. Phần này rất quan trọng khi Tổ tổng hợp ý kiến của từng thành viên để đưa vào báo cáo kết quả thẩm tra, xác minh. Việc phân tích, đánh giá phải có tính lo-gic, tính chặt chẽ để đề xuất, kiến nghị đúng quy định. Để thực hiện việc này cần chia làm 3 nhóm hành vi có mức độ khác nhau để tham mưu biện pháp xử lý:

(1) Nhóm hành vi mang tính thiếu sót và cần lưu ý: Khi phát hiện những vấn đề có phản ánh nhưng chưa chính xác, có thiếu sót nhưng chưa vi phạm thì cần phát hiện, cảnh báo, chỉ ra thiếu sót và dự báo những vấn đề cần đề phòng, tránh gây ra những rủi ro cho đơn vị hoặc tránh để trở thành vi phạm. Đối với trường hợp này, nên tham mưu, đề xuất cấp ủy chỉ đạo đơn vị có kế hoạch khắc phục các thiếu sót, hoàn thành trong thời gian sớm nhất.

(2) Nhóm hành vi thuộc về hạn chế, khuyết điểm: Khi phát hiện những vấn đề làm chưa tốt, chưa tròn vai, chưa tròn trách nhiệm nên tham mưu, đề xuất cấp ủy chỉ đạo kiểm điểm, rút kinh nghiệm, phê bình để chấn chỉnh, kịp thời khắc phục, không để vi phạm kéo dài đến mức xem xét xử lý kỷ luật.

(3) Nhóm hành vi có dấu hiệu vi phạm đến mức phải xử lý: Khi xác định có dấu hiệu vi phạm, có hậu quả xảy ra thì báo cáo ngay cho cấp ủy, đề xuất kiểm tra dấu hiệu vi phạm, kết luận đúng sai rõ ràng; sau đó, thực hiện quy trình kiểm điểm, khắc phục hậu quả, xử lý kỷ luật.

Thứ năm, tham mưu, đề xuất, kiến nghị xử lý trách nhiệm sau quá trình xác minh. Sau khi thực hiện thẩm tra, xác minh, Tổ kiểm tra - xác minh sẽ phân loại trách nhiệm, vai trò của từng cá nhân và tham mưu Ban Thường vụ Đảng ủy xử lý dựa trên trách nhiệm ở từng nội dung, cụ thể: trách nhiệm trong lãnh đạo thực hiện công tác tổ chức xây dựng Đảng; trách nhiệm trong lãnh đạo thực hiện nhiệm vụ chính trị; trách nhiệm trong quản lý, điều hành…

Một số kinh nghiệm

Hoạt động thẩm tra, xác minh là một khâu trọng yếu trong nhiệm vụ kiểm tra, giám sát của Đảng nhưng hoàn toàn không phải là một khâu khép kín riêng biệt, càng không phải là một khâu duy nhất, mà là sự liên hoàn, gắn kết với nhiều khâu, nhiều tác động khác, xuyên suốt từ lúc bắt đầu đến khi kết thúc hoạt động kiểm tra. Để hoạt động thẩm tra, xác minh đạt kết quả tốt, một số kinh nghiệm rút ra như sau:

Một là, nâng cao nhận thức của cán bộ, đảng viên, đặc biệt là cán bộ làm công tác kiểm tra về vai trò, tầm quan trọng của công tác thẩm tra, xác minh. Đây là một đòi hỏi tất yếu trong công tác kiểm tra nói riêng và công tác xây dựng Đảng nói chung.

Hai là, thường xuyên, tiếp tục bổ sung, hoàn thiện và đổi mới phương pháp, quy định, cách thức tiến hành thẩm tra, xác minh. Nội dung thẩm tra, xác minh luôn thay đổi theo tình hình thực tế; vì vậy, việc xem xét, rà soát và đổi mới phương pháp là việc làm cần thiết để phù hợp với hoàn cảnh, đối tượng.

Ba là, giám sát chặt chẽ quá trình thực hiện thẩm tra, xác minh để đảm bảo tính chính xác, khách quan, hạn chế những khuyết điểm trong quá trình xác minh.

Điều cuối cùng, cũng là điều cốt lõi, quan trọng để thực hiện hiệu quả công tác kiểm tra xác minh: Cán bộ làm công tác kiểm tra, giám sát phải thực thi công vụ trên tinh thần “đương nhân bất nhượng” tức bằng mọi giá, dù đối mặt có là thử thách khó khăn, chúng ta phải bảo vệ cho được cái đúng, cái lẽ phải, cái chính nghĩa của tổ chức. Đồng thời, nên phân tích cụ thể và cảm thông sâu sắc cái hạn chế, cái khiếm khuyết bằng tấm lòng trắc ẩn và sự khoan dung. Bởi trong thực hiện, điều hành và xử lý công việc, ai cũng khó tránh khỏi có những lúc để xảy ra sai sót hoặc sai lầm. Cảm thông để hỗ trợ, chia sẻ để giúp đỡ, thấu hiểu để hướng dẫn. Việc xử lý các vi phạm khi cần thiết nhằm bảo vệ kỷ luật, kỷ cương của tổ chức, bảo vệ lẽ phải, bảo vệ cái đúng chứ không nhằm trừng phạt, trù dập cán bộ.

Tạ Huấn - Lệ Thi


Ý kiến bạn đọc

refresh
 

Tổng lượt bình luận

Tin khác

Thông báo